LỜI GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU
Cập nhật lúc: 15:40 - 31/12/2016 Lượt xem: 527

          Như bao vùng quê khác trên dải đất hình chữ S này, mảnh đất Liên Chiểu đã trải qua những bước thăng trầm trên con đường phát triển. Cùng với sự nghiệp giữ nước cha ông ta đã để lại bao giá trị văn hóa, lịch sử trên mãnh đất này.

          Cùng với quá trình hình thành mảnh đất Liên Chiểu như ngày nay thì nhiều làng xã ra đời đã gắn với mỗi ngôi làng. Mỗi ngôi làng ấy đều có công của bậc tiền bối khai phá, sáng lập nên. Để ghi nhớ công trạng, người đời đã xây dựng rất nhiều đình làng, chùa, miếu, vừa thể hiện được công ơn vừa là nơi sinh hoạt tinh thần của những người dân nơi đây. Những ngôi đình làng có những nét hoa văn rất độc đáo, ẩn chứa nhiều câu hỏi bí ẩn, thú vị buộc chúng ta phải khám phá. Bởi những ngôi đình, chùa, miếu nơi đây vừa có nét hoa văn đẹp, vừa thể hiện giá trị lịch sử cách mạng sâu sắc. Đó điểm nổi bật so với các đình, chùa miếu ở khu vực phía Bắc. Tiêu biểu như: Đình Hòa Mỹ, Miếu Hàm Trung, đình Xuân Dương…

          Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ thần thánh. Nơi đây cũng để lại những di tích có giá trị lịch sử cao, nó minh chứng cho sức mạnh tiềm tàng của nhân dân Liên Chiểu nói riêng và cả nước nói chung. Đó là di tích chiến thắng Đồn Nhất, di tích Kho xăng Liên Chiểu, Chiến tích Cầu Thủy Tú. Với những nét giới thiệu sơ về các ngôi đình và di tích sau đây, phần nào sẽ đáp ứng được trí tò mò của các bạn ưa thích khám phá những nét văn hóa của cha ông và chúng tôi rất hân hạnh đón tiếp các bạn tìm hiểu thực tế về các di tích trên địa bàn quận.

          Địa chỉ liên hệ: Phòng Văn hóa và Thông tin quận - Số 68 Nguyễn Sinh Sắc, TP Đà Nẵng. Số điện thoại: 05113. 730831 

           1. Đình Xuân Dương:

           Đình Xuân Dương tọa lạc gần bên bờ vịnh Đà Nẵng, cách thành phố khoảng 16km về hướng Tây Bắc.

Description: 2

           Mảnh đất Xuân Dương vốn là một phần đất của làng Xuân Thiều xưa. Đến giữa thế kỉ XIX, Xuân Dương mới được tách ra trở thành một làng mới. Cũng vì thế các bậc thần linh, các vị tiền hiền, hậu hiền của làng Xuân Thiều vẫn được người dân Xuân Dương tế tự tại đình làng.

           Ngôi đình còn lại ngày nay được xây dựng vào năm Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (1900). Năm Bảo Đại thứ 12 (1936), đình được trùng tu lần thứ 1, các lần trùng tu tiếp theo là vào các năm 1964 và 2004. Những lần trùng tu này chủ yếu thực hiện ở các bộ phận kiến trúc ngoại vi như cổng ngõ, bình phong, tường thành, các hình tượng trang trí hoặc thay thế một số cấu kiện gỗ bị hư hại, không ảnh hưởng lớn đến kiểu thức và quy mô kiến trúc ban đầu của đình làng.

            Đình Xuân Dương được xây dựng trên một gò cao, quay về hướng Đông Nam, trên diện tích khuôn viên hiện nay là 462m2. Phía trước 2 bên đình là 2 đầu tả vu (lầu chiêng) và hữu vu (lầu trống). Phần tiền đường có 2 hàng cột, mỗi hàng 4 cột. Bộ vì của tiền đường được làm theo kiểu "chồng rường giả thủ". Các giả thủ đều được chạm trổ hoa văn. Đầu các con rường đều được chạm khắc hình cây, hoa, lá, quả rất mềm mại, sinh động. Tiền đường có chiều rộng 3.47m, chiều dài 8.56m.

           Tiếp theo phần tiền đường là phần chánh điện với 5 hàng cột, mỗi hàng 4 cột. Bộ vì phần chánh điện được làm theo kiểu vì kèo. Phần bẩy hiên cũng được chạm trổ trang trí hoa văn. Trong chánh điện treo bức hoành phi có 2 chữ " Tổ quốc"  bằng chữ Hán, được tạo năm 1966. Trước bàn thờ hội đồng là bức tượng Bác Hồ bán thân bằng thạch cao. Tiếp theo, phía sau sát tường được thiết trí 4 bàn thờ.

           Trước sân đình là bình phong, mặt trong đắp nổi hình lân, mặt ngoài đắp nổi hình hổ. Mái đình lợp ngoái âm dương và trang trí hình rồng, phụng ghép bằng sành sứ. Diềm mái gắn đĩa sứ men lam.

           Đình Xuân Dương là một trong số những đình có kiểu kiến trúc truyền thống với các mảng chạm khắc trang trí tinh xảo, sinh động và bay bổng.

           Hàng năm, làng tổ chức lễ cúng vào ngày 15- 02 Âm lịch. Đây cũng là dịp dân làng tổ chức lễ hội được đông đảo người dân tham gia.

           2. Miếu Hàm Trung:

           Miếu Hàm Trung thuộc làng Xuân Thiều, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 15km về phía Tây Bắc.

           Hàm Trung là một xóm của làng Xuân Thiều, có địa hình chia thành 2 khu vực rõ rệt: Khu đồi cao cát trắng - nơi quần tụ sinh sống của nhân dân, nằm về phía Đông Nam và khu đồng ruộng thấp trũng vốn được hình thành từ sự khai phá các đầm, hồ sình lầy chạy dài đến gần sông Thủy Tú, phía bên hữu ngạn.

Description: 5

Tương truyền, ở vùng đồi cát nguyên là một khu rừng rậm, u ẩn, ít có bóng người. Rừng có nhiều thú dữ và nhiều loài cây thân gỗ lớn, hàng trăm năm tuổi, như : dự, dẻ, u, đa… trong đó dự là loài cây chiếm ưu thế hơn cả. Đặc biệt ở phía rìa làng, bên bìa rừng có cây dự to đến 5, 6 người ôm không xuể, cành lá um tùm. Dưới gốc cây, do thói quen vứt bỏ các bình vôi ăn trầu của  dân gian, lâu ngày chất thành đống lớn.

Chính đống bình vôi lâu ngày "hóa thạch" dưới gốc cây dự có tới hàng trăm năm tuổi là căn cứ trực tiếp cho sự ra đời của miếu Hàm Trung.

Chuyện kể rằng, vào thời kháng chiến Chống Minh, đầu thế kỷ XV, đã diễn ra một trận quyết chiến giữa nghĩa quân và bọn cướp nước. Nhưng đó là một trận chiến không cân sức. Lực lượng nghĩa quân lần lượt tử trận. Cuối cùng chỉ còn lại một người thoát được vòng vây, chạy trốn vào hốc thân cây dự ở đầu làng. Quân Minh đuổi đến nơi thì có một thì có một bóng đen lao ra chạy hút vào rừng, chúng bám theo, nhưng hóa ra là một con cáo. Người nghĩa quân từ trong hốc thân cây dự bước ra, thoát nạn trong gang tấc.

Câu chuyện nghĩa quân thoát được nanh vuốt của Quân Minh nhanh chóng lan truyền. Dân gian cho rằng đã có thần linh phù trợ, đó là các vị thần hóa từ con cáo và đống bình vôi lâu ngày ở cây dự cổ thụ, gọi là "Hồ Ly cửu vĩ tiên nương thần"và  "Phấn nhĩ quỷ vương tiên nương thần"

Miếu Hàm Trung được dựng lên từ đó để thờ hai vị nữ thần và gọi là miếu cây Dự.

Miếu được thay đi dựng lại nhiều lần, đến năm Tự Đức thứ 13 (1860), nhân dân đóng góp nhiều công của dựng lên nhà điện bằng gỗ quý. Sau đó, năm Tự Đức thứ 26 (1873), nhân dân tiếp tục xây dựng các công trình ngoại vi như hồ nước, bình phong ngoại, la thành tạo cho miếu trở thành một chỉnh thể kiến trúc hài hòa còn lại đến hôm nay.

Miếu có hai bộ phận kiến trúc chính là chính điện phía trước và hậu tẩm tuy có quy mô nhưng khác với đa số các công trình tín ngưỡng khác thường được xây theo kiểu vòm cuốn và tạo lâu giả, thì ở đây, được làm theo kiểu nhà 2 mái, lợp ngói âm dương.

Chính điện có quy mô một gian hai chái theo kiểu nhà rường truyền thống xứ Quảng; trên là mái ngói âm dương qua hơn thế kỉ nay đã rêu phong. Trên một số cấu kiện gỗ được trang trí các đồ án mây nước hội tụ, dây lá và đầu rồng cách điệu bằng kĩ thuật chạm khắc gỗ. Ngoài ra còn có các đồ án cầm kỳ thi họa được trang trí trên các khuôn bông và liên ba. Đáng chú ý nhất  là các thành kèo ba ở mặt trước (kèo ba tiền) đều được uốn cong mềm mại, hai bên hông từ đầu xuống tới đuôi kèo là hình hai con rồng rất uyển chuyển.

Miếu có cả bình phong nội và bình phong ngoại nằm cách quãng giữa một cái hồ nhân tạo quanh năm có nước chảy qua, tạo ra yếu tố minh đường thủy tụ, hài hòa âm dương cho cảnh sắc trường tồn.

Miếu Hàm Trung cũng được xem là di tích lịch sử của Đà Nẵng nơi đây, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Miếu Hàm Trung là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử xảy ra. Đây là nơi mà cơ quan cách mạng xã Tân Hiệp (Sau này là xã Hoà Hiệp) đóng trụ sở trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. Ngày 15/01/1946 chính tại Miếu đã diễn ra lễ thành lập Chi bộ đầu tiên của Xuân Thiều với việc kết nạp ba đồng chí Phạm Tương Phùng, Phạm Sỹ Kiêng, Phạm Sỹ Cư (Bí thư) do Đồng chí Chế Viết Tấn, Chủ tịch Huyện Hoà Vang tổ chức kết nạp.

          Trong những năm 1947 - 1954, Miếu thường xuyên là trạm dừng chân của cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 96, 108 khi về hoạt động tại cánh Tây Bắc Hoà Vang. Có lần, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 Nguyễn Bá Phát ( Sau này là tư lệnh Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản ) đã về đây nói chuyện, thăm hỏi nhân dân địa phương, mục đích là để nghi binh cho Trung đoàn 108 đánh trận Gò Cà thắng lợi vào năm 1950.

          Trong kháng chiến chống Mỹ năm 1973 để chuẩn bị cho công cuộc giữ đất giành dân, thực hiện Hiệp định Pari, nổng cát ngay phía sau Miếu Hàm Trung là địa điềm tập kết 66 tấn gạo nhằm phục cho cán bộ và nhân dân trong chiến dịch này.

Ngày nay, vào ngày 12/4 âm lịch hàng năm, nhân dân Xuân Thiều tổ chức cúng cầu an cầu mong Thánh thần phù hộ cho dân làng bình an, xóm làng thịnh vượng.

3. Đình Trung Nghĩa:

Đình Trung Nghĩa nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7km về phía Tây. Theo người dân địa phương, mảnh đất Trung Nghĩa được khai phá vào đời vua Lê Chân Tông (1643- 1649). Tiền hiền của làng là ông Văn Đức (quê tỉnh Thanh Hóa), cùng gia đình đến đây khai cự lập nghiệp. Lúc bấy giờ Trung Nghĩa còn là vùng đồi trống, hoang vu. Về sau, hậu duệ của ông cùng với nhiều tộc họ khác tiếp tục mở mang làng xã, phát triển kinh tế. Năm 1900, do điều kiện cuộc sống ngày càng nâng cao và để có nơi thờ cúng các vị tiền hiền, hậu hiền, dân làng đã đồng tâm hợp lực xây dựng cho làng mình ngôi đình còn lại đến nay.

Description: 3

Là ngôi đình còn lưu giữ những nét kiến trúc cổ xưa với nhà xây theo dạng ba gian bốn mái, tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương. Đình chia làm 3 gian thờ, gian giữa thờ thành hoàng bổn xứ, hai bên tả hữu thờ tiền hiền và hậu hiền. kết cấu bộ vì bên trong theo kiểu liên kết kẻ suốt, các cột, xuyên, trính đều bằng gỗ mít, gồm bốn cột cái, mười hai cột quân và mười hai cột hiên. Đầu các vì kèo chạm trổ đầu rồng, đuôi có hình hoa lá. Trên xà có khắc thời gian xây dựng đình (năm Thành Thái thứ 12-1900). Trên gian giữa có treo bức hoành phi với ba chữ Hán" Trung Nghĩa đình". Ở mặt tiền đình, bên trái đắp nổi bằng sành sứ hình rồng, bên phải là hình hổ (tả thanh long hữu bạch hổ). Trên nóc, đắp lưỡng long chầu nguyệt, đuôi mái đắp hình lân. Bức bình phong trước đình có gắn hình búp sen hai bên, hai mặt trong ngoài được đắp nổi hình lân, hổ. Tất cả các hình trang trí trên được ghép khảm sành sứ. Mái của tam quan đình lợp bằng ngói ống mới, cuối  mái đắp hình đuôi thuyền.

Hằng năm, nhân dân trong làng tổ chức các kỳ tế lễ, lớn nhất là" lễ hội đình làng" vào ngày 10 tháng 03 âm lịch, có tác dụng giáo dục truyền thống hướng về cội nguồn tri ân tổ tiên, thắt chặt tình đoàn kết xóm làng cùng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Ngày nay, đình  Trung Nghĩa là một trong những di tích lịch sử văn hóa có giá trị về nghệ thuật kiến trúc. Bên cạnh đó, còn lưu giữ 16 sắc phong của triều Nguyễn có từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định.

4. DI TÍCH TRẬN ĐÁNH ĐỒN NHẤT (25-09-1952)

Đồn Nhất có từ khi giặc Pháp lấy cửa Nam của Hải Vân Quan làm thành đồn canh án ngữ con đường độc đạo từ Bắc vào Nam. Đồn Nhất nằm ngay trên đỉnh đèo Hải Vân là nơi tiếp giáp giữa tỉnh Thừa Thiên- Huế và thành phố Đà Nẵng.  Để đi đến di tích, từ thành phố Đà Nẵng chúng ta theo Quốc lộ 1A ngược ra phía Bắc lên đỉnh đèo Hải Vân ta sẽ thấy hai cửa ải của Hải Vân Quan. Đây là vị trí của Đồn Nhất

Description: IMG_0015

Di tích trận đánh đồn Nhất nằm ngay trên đỉnh đèo Hải Vân trong khu vực Hải Vân Quan ngày xưa. Lợi dụng các bờ đá của khu thành xưa, địch xây dựng làm thành đồn trú. Các bờ đá trước đây cao 3m, dày 1m nay chỉ còn một phần phía Nam. Đặc biệt lợi dụng các cửa thành, thực dân Pháp làm thành lô cốt với lỗ châu mai chĩa ra xung quanh. Cửa thành cao 6m rộng 7m và dày 4m được xây bằng gach mộc, đế móng được xây bằng đá. Một số  lô cốt thép được xây thêm sau này.

Trận đánh Đồn Nhất là một trận đánh tiêu biểu của tiểu đoàn 59 trung đoàn 803. Trận đánh tuy không lớn nhưng đã thể hiện được tinh thần, ý chí của quân đội ta. Đó là lòng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bất chấp mọi khó khăn gian khổ, trở ngại về thời tiết, địa hình, địa vật, phương tiện chiến đấu thô sơ lạc hậu. Trận đánh cũng thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm mưu trí, sáng tạo của quân đội ta, không ngại hy sinh, nêu gương sáng của anh bộ đội cụ Hồ : Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Ngày hôm nay, nếu ai có dịp lên Đèo Hải Vân, lên ải Vân Quan, chúng ta sẽ thấy có một bia lớn, nơi đây thế hệ sau đã dựng và ghi lại những diễn biến và công trạng của thế hệ đi trước. Chúng ta có thế thắp những nén nhang để tưởng nhớ, và biết ơn. Qúa khứ, mãi là một tấm màng bí hiểm cho chúng ta khám phá trân trọng, cùng xây đắp đất nước vững chắc hơn.

5. CHIẾN THẮNG KHO XĂNG LIÊN CHIỂU

Kho xăng Liên Chiểu hiện ở phía Nam chân đèo Hải Vân, thuộc phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Để đi đến di tích này chúng ta có thể đi bằng nhiều phương tiện, ôtô, xe máy, xe đạp, đi bộ, đi thuyền... Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng, chúng ta đi theo Quốc lô 1A ra Huế, khi vừa đến chân đèo Hải Vân, nhìn về bên tay phải sẽ thấy kho xăng Liên Chiểu với nhiều bồn xăng, nằm sát chân núi cạnh bãi biển Nam Ô.

Di tích chiến thắng Kho xăng Liên Chiểu là loại hình di tích lịch sử cách mạng. Kho xăng liên Chiểu hiện nay gồm có 7 bồn chứa xăng do cơ quan Cục Xăng dầu- Bộ Quốc phòng quản lý, nằm ở vị trí sát chân núi, bên cạnh bờ biển Nam Ô, phần lớn các bồn chứa xăng đều được xây dựng bên trong vách núi, nên khi nhìn trên đường đèo quốc lộ I, sẽ không thấy các bồn chứa, nhưng nếu nhìn từ ngoài biển vào sẽ thấy rất rõ do vậy kho xăng Liên Chiểu có vị trí rất thuận lợi cho việc chuyển chở xăng dầu, nhưng cũng rất kín đáo dễ ngụy trang, bảo vệ. Hiện kho xăng Liên Chiểu vẫn còn tốt, đang dùng để chứa dầu phục vụ cho thành phố và quốc gia.

Description: IMG_0034

Di tích Kho xăng Liên Chiểu được xem là cái dạ dày nuôi phương tiện chiến tranh của Mỹ ở miền Trung, nơi Mỹ từng hênh hoang cho rằng chỉ khi nào núi Hải Vân sụp đổ lấp hết vịnh Đà Nẵng thì Việt Cộng mới đánh được kho xăng Liên Chiểu. Nhưng chúng không thể ngờ rằng dân tộc chúng ta là một dân tộc ngoan cường, thông minh, sáng tạo, không chịu lùi bước trước khó khăn, chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng rất vẻ vang. Đúng 24 giờ đêm ngày 4 tháng 8 năm 1965, một phát pháo hiệu vọt lên, báo hiệu trận đánh bắt đầu. Cả hai mũi tấn công của đại đội đồng loại nổ súng tiêu diệt các mục tiêu, bọn địch bảo vệ kho không phản ứng kịp, sau 15 phút toàn bộ Đại đội Bảo an bị diệt, các mũi tấn công của ta làm chủ hoàn toàn trận địa. Lập tức bộ phận 13 cảm tử quân vào đánh các bồn xăng, các đồng chí đặt bộc phá vào 9 bồn xăng, đặt xong một phát pháo hiệu màu đỏ vọt lên, báo hiệu các chiến sĩ đồng loạt hiểm hỏa bằng nụ xòe, rồi nhanh chóng lui ra cách 100m, các khối bộc phá phát nổ, làm chuyển động cả một khu rừng, sau tiếng nổ là những ngọn lửa bốc cao hàng trăm mét từ các bồn chứa chảy ra ào xuống triền núi bên bờ vịnh Đà Nẵng. Xăng chảy đến đâu, lửa chảy đến đó và kéo dài suốt ngày 5 tháng 8 năm 1965. Qua trận đánh ta đã tiêu diệt một Đại đội Bảo An với 70 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 20 triệu lít xăng bị thiêu hủy, 6 xe, 9 toa tàu chở xăng cũng bị phá hủy. Trận đánh đã được thưởng Huân Chương Quân công hạng 3.

Di tích chiến thắng Kho xăng Liên Chiểu nói lên tinh thần yêu nước, ý chí quật cường chống ngoại xâm của nhân dân Hòa Vang- Đà Nẵng nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Thể hiện sức mạnh chiến tranh nhân dân mà Đảng và nhà nước ta đã vận dụng vào cuộc kháng chiến cứu nước. Trận đánh Kho xăng Liên Chiểu lúc bấy giờ còn có ý nghĩa rất lớn. Quân và dân ta đã phá tan đốt cháy toàn bộ kho xăng một trong những cơ sở hậu cần quan trọng của Mỹ-Ngụy, tiêu hao một phần khí tài, phương tiện chiến tranh và bộ phận sinh lực địch, gây hoang mang khiếp sợ cho quân thù. Đem lại niềm tự hào, niềm tin đến ngày toàn thắng cho nhân dân thành phố Đà Nẵng anh hùng.

6. ĐÌNH XUÂN THIỀU:

Đình Xuân Thiều nằm ở làng Xuân Thiều - Tổng Bình Thới Hạ - huyện Hòa Vang- tỉnh Quảng Nam nay là khối phố Xuân Thiều- Phường Hòa Hiệp Nam- Quận Liên Chiểu- Thành phố Đà Nẵng.

Description: DSC04127

Đình được xây dựng từ năm Ất Dậu đời vua Minh Mạng (1825). Trải qua gần 200 năm lịch sử, ngôi đình đã chứng kiến nhiều biến cố lịch sử xảy ra trên mảnh đất này. Đình Xuân Thiều ngày nay vẫn giữ nguyên vẹn như lần trùng tu năm Tân Sửu 1961. Các cột gỗ được thay thế bằng các cột bê tông. Mái vẫn lợp ngói âm dương. Trên nóc là hình lưỡng long chầu nguyệt. Có các cột vật thuộc tứ linh như phượng, lân được đắp nổi trên các bờ đuôi mái trước, mái hiên của đình trên xà cò (đòn đông hạ) của đình có khắc hàng chữ nho: "Minh Mạng Ất Dậu niên tiền nhơn cấu tạo, Chí Tự Đức Đinh Sửu niên tiền nhơn tái tạo chí Khải Định Canh Thân quý hạ tái tạo''

Đình gồm có tiền đường, hậu tẩm. Tiền đường rộng 12.4m, dài 9.6m có bốn bàn thờ ở hai bên. Bên trái có 2 bàn thờ tiền hiền và tây khối. Bên phải có bàn thờ Vu Hậu và Đông Phối.

Phần hậu tẩm rộng 3m, dài 3,2m, có một bàn thờ chính. Trước cửa hậu có bốn chữ nho lớn "Thiên Thu Trường Tại". Sân đình dài 22.5m, rộng 29m lát bằng gạch thường, trước sân là bức bình phong đắp nổi hình các con hổ.

Đình có giá trị lịch sử cách mạng rất lớn. Năm 1858 tàu chiến Pháp tấn công vào Đà Nẵng, đình Xuân Thiều là nơi dân làng tập trung lương thực, thực phẩm cho quân sĩ triều đình Huế chiến đấu. Tiếp đến cuộc khới binh của Tôn Thất Thuyết tấn công giặc Pháp ở Huế thất bại, một bộ phận quân triều đình tan rã chạy vào các tỉnh phía Nam. Một lần nữa, đình Xuân Thiều giúp đỡ để trở về quê quán.

Trong tổng khởi nghĩa cướp chính quyền tháng 8 năm 1945 đình Xuân Thiều là nơi thành lập chính quyền cách mạng thôn Xuân Thiều là điểm bầu cử quốc hội khóa đầu tiên của nước Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong cuộc bầu cử này 100% đại biểu Việt Minh đã được bầu cử

Trong kháng chiến chống Pháp, đình là nơi bộ đội, du kích ở để đánh Pháp trên đường quốc lộ I và cũng là nơi chi bộ đảng địa phương hội họp, trao đổi nắm tình hình địa phương.

Trong tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đình Xuân Thiều là nơi tập họp, tập trung các lực lượng đấu tranh chính trị ở các thôn Xuân Thiều, Trung Sơn, Quan Nam. Từ đây hàng trăm người mang cờ Mặt Trận giải phóng, biểu tình vây đồn bốt giặc ở rừng Xuân Thiều, cản đầu xe địch không cho chúng đi càn quét bắn giết đồng bào. Quân Mỹ- Ngụy đã xả súng bắn xối xả làm bốn người hy sinh. Năm 1973 trong cuộc giành dân, giữ đất bộ đội ta cũng về đóng tại đây.

Sau giải phóng đình được làm kho chứa lúa của hợp tác xã và sau này được trả lại làm nơi hội họp cúng tế của bà con làng Xuân Thiều.

Hằng năm cứ đến 14 tháng 3 nhân dân làng Xuân Thiều bao gồm cả những người con đi làm ăn xa cũng về đây dự lễ hội đông đủ. Lễ hội nhằm tôn vinh giá trị văn hóa đồng thời nhắc nhở cháu con dù đi đâu cũng nhờ về nguồn cội. Từ đó đóng góp xây dựng quê hương giàu mạnh.

7. ĐÌNH LÀNG THANH VINH:

Ngôi đình làng Thanh Vinh trước đây là làng Thanh Sơn tọa lạc sát đồi núi Thanh Vinh, thuộc phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, cách ủy ban nhân dân phường Hòa Khánh Bắc khoảng 1,5km về phía Nam. Phía Bắc giáp hai từ đường tộc Lê và Trần, phía Nam giáp đồi núi, phía Tây giáp nghĩa địa, phía đông giáp miếu âm linh và miếu bà. Đình xây dựng vào năm Qúy Mẹo (1843) do dân làng địa phương đóng góp xây dựng. Đến nay đình trải qua bốn lần tu sửa, trùng tu lại vào các năm 1931,1943,1959 và lần cuối cùng là 1971. Đình là nơi thờ cúng các vị công thần có công với các triều đại trước đã được phong tặng bằng sắc, các vị tiền hiền cùng các vị tiền bối có công khai hoang, lập ấp

. Description: 6

 

Về kiến trúc, đình xây dựng theo kiểu 3 gian, kết cấu khung sườn bằng gỗ, xây tường bao bọc xung quanh. Đình có 2 bộ vì kèo, 4 trụ đôi, toàn bộ xà gỗ, cầu phong, li tô được làm bằng gỗ mít, mái lợp ngói thường. Đình có 3 gian thờ nằm sát tường và một bàn án được chạm trổ tinh xảo đặt chính giữa đình. Đến nay, trải qua bao đời thiên tai nghiệt ngã, chiến tranh khốc liệt đình có phần xuống cấp; Toàn bộ tường bao che bị nứt và mốc, phân kết cấu gỗ bị mối một nhưng không đáng kể.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ giai đoạn 1945-1975, đình là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng, cất giũ nhiều tài liệu bí mật, là cơ sở của ủy ban kháng chiến Đa Hòa cũ làm nơi tổ chức nhiều cuộc họp quan trọng. Trong đó có sự góp mặt của nhiều đồng chí là nòng cốt trong lực lượng kháng chiến thời bấy giờ như : Đồng chí Hà Thúc Dư, Tăng Ngọc Phương nguyên phó bí thư quận Uỷ quận II, Đà Nẵng, đồng chí Hồ Phúc Ngôn trưởng dân quân tập trung xã Hòa Liên, Hòa Vang cũ, thời chống Mỹ, nguyên là tiểu đoàn trưởng đặc công 48 Đà Nẵng và sau này là phó chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự Đà Nẵng và cùng nhiều đồng chí khác. Khi địch phát hiện chúng cho quân khủng bố, đột phá toàn bộ khu đình như hoành phi, liễn đối, sắc phong của làng... Chính vì thế mà cho đến nay chỉ còn một cây đòn đông và 1 bi án.

Đình có giá trị về lịch sử nhiều măt, hằng năm dân làng có tổ chức 3 đợt cúng tế tại đình để cầu an, tưởng nhớ công ơn các vị tiên nhân đi trước vào các ngày 14 tháng 3 âm lịch, 5 tháng 5 âm lịch và 3 ngày tết cổ truyền dân tộc.

8.ĐÌNH HÒA PHÚ :

Đình trực thuộc tổ 16, Hòa Phú 1, phường Hòa Minh. Ngôi đình được xây dựng trên dưới 300 năm. Thưở xưa, mới dựng ngôi đình chỉ là mảnh tranh tre nứa. Trải qua bao lần trùng tu, lần mới nhất 1999- 2000, ngôi đình đã mang dáng dấp như ngày hôm nay.

Kết cấu chính của đình gồm có 3 gian, 2 chái. Bàn thờ chính giữa thờ thần hoàng làng. Hai bên thờ tiền hiền, hậu hiền. Từ trong nhìn ra phía tay trái là mộ tiền hiền, hậu hiền. Có 2 trụ biểu hai bên. Mô típ trên mái đính vẫn theo lôi kiến trúc xưa, trên mái có lưỡng long chầu nguyệt, bên giữa có vòng tròn đó là thái cực tượng trưng cho sự phát triển của vạn vật trong trời đất. Cổng đi vào bên trong đình có 2 con kì lân, tượng trưng cho sư trang nghiêm. Vào bên trong đình thì ta bắt gặp ngay lối kiến trúc nhà Nguyễn, với những cây đồn đông trên nhà thiết kế theo lối trùng rường giả thủ. Ngói lợp âm dương. Trong đình còn giữ lại 8 sắc phong của các vua triều Nguyễn.

Đây là ngôi đình có giá trị lịch sử, vào thời kỳ chống Pháp và Mỹ, đình là nơi họp của cán bộ cách mạng của xã Hòa Thắng.

Description: 1

Hằng năm đến ngày 12 và 13 tháng giêng làng lại cầu quốc thái dân an. Tại đây diễn ra nhiều trò chơi dân gian thú vị, truyền thống. Nhằm rèn luyện sức khỏe, nâng cao tinh thần đoàn kết, khơi dậy tinh thần hướng về cội nguồn dân tộc.

9. ĐÌNH PHƯỚC LÝ:

Đình có diện tích 300m2, có tuổi đời trên dưới 300 năm. Đình còn giữ được 12 sắc phong.

 Và đình này chủ yếu có giá trị vê lịch sử cách mang. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là nơi họp cơ sở cách mạng của anh hùng Đào Ngọc Chua.

Hằng năm vào ngày 16 tháng 4 âm lịch thường xuyên diễn ra lễ hội đình làng. Có những trò chơi dân gian đa dạng.

10.CHIẾN TÍCH CẦU THỦY TÚ:

Cây cầu này thuộc phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Đây là chiến tích lịch sử rất quan trọng, tại cây cầu này máu của đồng bào ta đã đổ xuống rất nhiều.

Cầu Thủy Tú là một vị trí chiến lược  nằm trên đường quốc lộ 1A, đi qua địa bàn xã Hòa Hiệp. Tại đây địch bố trí 7 lô cốt 2 bên đầu cầu, trên lô cốt chúng bố trí 3 khẩu pháo 81ly và 2 xe tăng túc trực, sẵn sàng chiến đấu thực hiện kế hoạch trên, đại đội 2 của Tiểu  đoàn đặc công 471 được sự giúp đỡ của cơ sở và lực lượng vũ trang xã Hòa Hiệp quyết định đánh sập cầu Thủy Tú

Sau khi nghiên cứu tình hình và vạch kế hoạch, đại đội đặc công gồm 43 đồng chí đã đưa khối bộc phá 120kg vào tiếp cận các mố cầu song do sơ sót kỹ thuật nên chưa đánh được. Đúng 2h30phút ngày 8 tháng 2 năm 1972 các chiến sĩ đặc công của ta đã tiếp cận được mục tiêu và đánh sập 3 nhịp cầu, làm gián đoạn giao thông trên quốc lộ 1A và diệt 5 tên địch, bên ta hy sinh 1 đồng chí. Trận đánh sập cầu Thủy Tú gây tiếng vang lớn tại Đà Nẵng.

Ngày hôm nay, cây cầu vẫn còn đó, tuy nhiên những chứng tích nó để lại làm thế hệ hôm nay đáng tự hào vê lớp cha anh đi trước.

Tin cùng chuyên mục











 

 








Liên kết web Liên kết web