Đình làng Thanh Vinh - Di tích lich sử cần được giữ gìn và phát huy.
Cập nhật lúc: 03:13 - 22/08/2014 Lượt xem: 1120

Khi nói đến văn hóa làng - nét văn hoá rất riêng của nông thôn Việt Nam, chúng ta thường liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê Việt. Một trong những hình ảnh rất đỗi quen thuộc đó, hình ảnh đã gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt từ bao đời nay, đó hình ảnh của những ngôi đình làng.

 

Trên địa bàn phường Hòa Khánh Bắc cũng có một ngôi đình như thế, đó là đình Thanh Vinh, tọa lạc sát chân núi trang nghiêm, tĩnh mịch tại khu dân cư Thanh Vinh, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

 

 

Theo các tài liệu xưa, đình trước đây được gọi là đình Thanh Sơn, được xây dựng dưới thời Vua Thiệu Trị năm thứ tư - năm Quý Mẹo 1843. Trước đây, đình được  xây dựng với hình thức sườn gỗ, tam gian, bốn mái, lợp tranh, tường xây đá. Đình là nơi thờ phụng các vị tiền nhân có công khai quốc đã được các triều đại vua chúa phong tặng và các bậc Tiền hiền, Hậu hiền, các bậc Tiền bối chư phái tộc có công khai khẩn đất đai quy dân lập xã. Trong bối cảnh dân cư còn thưa thớt và không đồng bộ vì nghèo khổ nhưng người dân lúc nầy vẫn duy trì phong tục thờ cúng các bậc tiền nhân, hằng năm đều đặn xuân kỳ thu tế.

 

Khi Vua Hàm Nghi (1885 - Ất Dậu) ban chiếu Cần Vương kêu gọi các vị văn thân nghĩa sĩ yêu nước tham gia kháng chiến chống quân xâm lược ngoại bang, đình làng Thanh Sơn (tên gọi đình Thanh Vinh lúc bấy giờ) trở thành đại bản doanh của Bộ chỉ huy tác chiến. Đến khi Vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần Vương tan rã, Nhiều chí sĩ yêu nước làng Thanh Sơn và các vung lân cận kẻ bị bắt, bị xử trảm, người thất thế phải ẩn trốn, như  thống lĩnh Hồ Như Học (người làng Vân Dương - Hòa Liên), cụ tán tương quân vụ tục gọi cụ tán Bùi, đốc binh Nguyễn Đức Tiết. Đình làng Thanh Sơn bị giặc đốt phá sạch, dân làng điêu đứng tản lạc. Khi vua Đồng Khánh đăng quang năm thứ hai (Đinh Hợi - 1887), dân cư bình phục yên ổn. Nhớ ơn các bậc tiền nhân, nhưng không có nơi thờ phụng, hằng năm dân làng Thanh Sơn che rạp tế lễ tại xứ Gò Đình (sát đường Âu Cơ ngày nay). Đến đời Vua Thành Thái năm thứ hai (Canh Dần - 1890), thấy dân tình nghèo khó không thể đóng góp xây dựng lại ngôi đình cho trang nghiêm để thờ phụng, cụ cố Phan Văn Tư người tộc Phan tiền hiền Thanh Sơn đã đứng ra vận động các chi phái tộc và toàn dân hưởng ứng việc xây dựng đình làng. Cụ đã cúng cho làng một ngôi đình sườn gỗ, ba gian, bốn mái, lợp ngói, vách ván. Năm 1903, đời Vua Thành Thái thứ năm (Quý Mẹo), dân cư phát triển đông đúc, các chư phái tộc đoàn kết cùng nhau kiến lập một ngôi đình kiên cố tường xây, lợp ngói âm dương, đầy đủ tứ linh, cửa bàn khoa bằng gỗ. Trong chính điện có tam toà long án sơn son thiếp vàng. Từ đó về sau dân làng đã có nơi nghiêm trang để thường niên nhị kỳ xuân thu tế tự.

 

 

Năm Ất Dậu - 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng thành lập xã Đa Hoà, do ông Nguyễn Bá Trình làm chủ tịch. Sau đó ông Trình đi bộ đội, ông Phạm Đình Hiển làm Chủ tịch, ông Lê Văn Mùi làm xã đội trưởng, ông Mai Tấn Tương làm xã đội phó. Lúc nầy đình làng được chọn làm nơi hội họp, làm việc của cán bộ cách mạng xã Đa Hòa. Đến năm 1946, (Bính Tuất) giặc Pháp phát hiện nơi đây có hàng chục tấn trấu, nồi niêu, lò bếp, là nơi tập trung lúa gạo, phục vụ hậu cần cho kháng chiến, nên chúng hung hãn càn quét, tàn phá xóm làng, dân cư phải di tản. Trụ sở xã Đa Hoà bị giặc Pháp đốt sạch, nhà cửa của dân cũng không còn. Năm Đinh Hợi - 1947, dân chúng hồi cư, đình làng Thanh Sơn đổi tên thành đình Thanh Vinh. Đình được dân làng sửa sang lại  trở thành cơ quan nhóm họp của Uỷ ban kháng chiến xã Đa Hoà. Lúc này, ông Hà Thúc Phiên làm chủ tịch Uỷ ban hành chính khánh chiến, ông Hà Thúc Dư làm Phó chủ tịch, ông Hà Thúc Khái làm ủy viên tuyên truyền. Có lần, trong khi nhóm họp, sợ giặc đi lùng, Ủy ban cử ông Lê Ngộ (lúc này là dân quân tự vệ) cảnh giới ra hiệu có địch cho cán bộ tẩu tán. Thông tin bị lộ, ông Lê Ngộ bị Pháp bắt và bị tra tấn dã man cho về đến nhà thì chết. Sau đó, chúng tiến hành vây ráp, khủng bố, toàn bộ từ khí, bằng sắc, hàm Ân, và các nghi trượng bị chúng cướp bóc, đốt phá. Các bộ cửa bàn khoa còn lại sau được đem làm hầm công sự cho cán bộ cách mạng ẩn náu.

 

Dù bị địch tăng cương vây ráp, khủng bố song đình vẫn được chọn làm nơi cất giấu tài liệu, hội họp và bàn bạc chỉ đạo phong trào chống giặc cánh bắc Hòa Vang. Từ đây, quân và dân địa phương đã tham gia phục vụ các đơn vị bộ đội chính quy tổ chức nhiều trận chống càn và tổ chức nhiều trận đánh tiêu diệt sinh lực địch, tiêu biểu nhất như các trận đánh Gò tròn - Dốc dài, đồi Voi, Cấm gò Thần (năm 1946 do Trung đoàn 96 tổ chức); trận Cấm Ông Cao (năm 1949, do ông Phạm Đình Hiển chỉ huy); các trận chống càn của giặc Pháp từ Tùng Sơn đến Thanh Vinh (trong các năm 1951 - 1952) và nhiều trận đánh khác.

 

Đặc biệt, giai đoạn 1954 - 3/1975, ông Hồ Phúc Ngôn - nguyên Trung đội trưởng dân quân tập trung xã Hòa Liên (thời kỳ chống Pháp), nguyên Tiểu đoàn trưởng đặc công 489 và Phó ban CHQS Đà Nẵng (thời kỳ chống Mỹ), đã chọn đình Thanh Vinh làm nơi trú quân, hội họp của bộ đội và dân quân. Năm 1966 ông Hồ Phúc Ngôn chỉ huy bộ đội trinh sát đánh Đồn 44 pháo binh Mỹ, tiêu diệt 180 tên Mỹ, 18 cây đại bác 105, 155 ly, 18 xe kéo pháo. Cũng năm 1966, ông Phan Văn Bảy chỉ huy đánh trận Hố Sâu - Gò Tròn tiêu diệt 7 lính Mỹ và 1 xe cơ giới. Từ năm 1967 đến trước ngày giải phóng 3/1975, Đội công tác Quận II Đà Nẵng do ông Phan Văn Tải lúc này là Quận ủy viên, Quận đội phó, làm đội trưởng, đã chọn đình làng Thanh Vinh làm nơi trú quân, chuyển thương binh, móc nối với cơ sở cách mạng trong nội thành ra học tập, nhận chỉ đạo của cấp trên về hoạt động trong nội thành. Năm 1971, từ đình Thanh Vinh, ông Đặng Đình Vân chỉ huy xuất quân đánh trung đội nghĩa quân đóng ở ấp Phước Sơn (Dốc dài Đa Phước). Năm 1972 ông Đặng Đình Vân và ông Hồ Phúc Ngôn chỉ huy đánh đồn Hoa Lư (Hòa Mỹ). Thương binh được đưa về đình Thanh Vinh chăm sóc, sau đó đưa ra căn cứ.

 

Sau kháng chiến chống Mỹ, làng Thanh Vinh có 10 liệt sỹ, 1 Bà mẹ VNAH. Hiện nay, nhiều thế hệ cán bộ cách mạng đã hoạt động tại ngôi đình này trong suốt những năm tháng kháng chiến gian khổ nay vẫn còn sống. Đó là các đồng chí Tăng Ngọc Phương, Phan Văn Tải, Hồ Phúc Ngôn, Hà Thúc Dư  và nhiều đồng chí khác.

 

Trải qua thời gian dài, dưới sự tàn phá nặng nề của bom đạn chiến tranh cộng với sự khắc nghiệt của thời tiết, sự cắn phá của mối mọt, ngôi đình nhiều lần bị xuống cấp, hư hỏng, như: Năm Tân Hợi – 1971, đình bị xuống cấp trầm trọng do mối mọt; đến cơn bão số 6 năm 2006, cây đổ đã làm mái ngói hư bể, tường nứt nhiều chổ, mối mọt cắn phá làm cho ngôi đình càng rệu rã. Song, mỗi lần bị xuống cấp, đình lại được nhân dân địa phương đóng góp tu bổ, tôn tạo và gìn giữ làm nơi thờ cúng tế lễ từ đó đến nay.

 

Có thể thấy, đình Thanh Vinh tuy chưa phải là công trình kiến trúc mang giá trị thẩm mỹ, kiến trúc của những công trình kiến trúc cổ, song đây là nơi chứa đựng những giá trị lịch sử to lớn, quý báu cần được lưu giữ  để giáo dục cho cháu con về lòng yêu nước và truyền thống cách mạng của quê hương. Để khôi phục được lịch sử của ngôi đình, Ban trị sự đình Thanh Vinh đã sưu tầm nhiều nguồn tư liệu lịch sử quý giá qua các thời kỳ, nhất là ký ức của nhiều cụ lão niên là cư dân bản địa tại địa phương như các cụ Hà Ân, Trần Thành, Đặng Thê, Phạm Ngộ, Phan Trí, Trần Quang, cụ Lê Văn Tất (Ở làng Vân Dương) và đặc biệt là các nhân chứng lịch sử qua hai cuộc kháng chiến hiện vẫn còn sống như các đồng chí Tăng Ngọc Phương, Phan Văn Tải, Hồ Phúc Ngôn, Hà Thúc Dư  và nhiều cụ lão thành khác khác.

 

Sau một thời gian sưu tầm hồ sơ, lịch sử đình làng, được sự giúp đỡ nhiệt tình của cấp ủy, chính quyền, các ban ngành địa phương; trên cơ sở những hồ sơ, tài liệu được các bậc lão thành có tâm huyết sưu tầm, gìn giữ; đặc biệt là những tư liệu quý giá từ những chứng nhân lịch sử còn sống; ngày 10/3/2014, UBND thành phố Đà Nẵng đã ký Quyết định số 1499/QĐ-UBND công nhận đình Thanh Vinh là di tích lịch sử cấp thành phố.

 

Mang trong mình những giá trị lịch sử quý giá, đình Thanh Vinh là di tích lịch sử cần được gìn giữ và phát huy cho các thế hệ mai sau về truyền thống cách mạng kiên cường của quê hương Liên Chiểu.

 

Nguồn: Trang TTĐT phường Hòa Khánh Bắc.

 

 












 












Liên kết web Liên kết web