Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Chuyển tới trang đầy đủ
Quay lại

Lăng ông và lễ hội cầu ngư ở Nam Ô 2

Đến hẹn lại lên hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 2 âm lịch dân làng Nam Ô2 phường Hòa Hiệp Nam lại tổ chức lễ hội cầu ngư. Với nghề nghiệp chính là làm biển, bởi vậy đối với người dân nơi đây lễ hội cầu ngư mang mục đích tâm linh cao cả nhằm cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mọi ngành, mọi nghề đều phát đạt, mùa biển bội thu, nhân dân ai cũng được ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội cầu ngư còn có tên là lễ hội cá Ông, lễ tế cá Voi, được tổ chức tại lăng Ông Ngư(còn gọi là Lăng Ông). Lăng Ông Ngư là di tích văn hóa tín ngưỡng nghề nghiệp. Theo lão Ngư dân trong vùng thì Lăng Ông Ngư là nơi thờ cá Ông, vừa vọng Ông sanh vừa thờ Ông tử. Vọng cầu Ông sanh đưa cá vào bờ được mùa đắc biển, thờ Ông tử (còn gọi là ông lụy), khi ông lụy (chết) người dân tổ chức tang lễ, chôn cất tử tế, sau 3 năm rửa cốt đem vào thờ trong lăng, người nào thấy trước hay vớt được ông lụy được vinh dự bịt khăn điều, đội nồi hương đi trước đám tang. Ông Ngư (cá Voi) là loài cá hiền lành, thông minh luôn kịp thời cứu giúp ngư dân khi gặp nạn trên biển do bảo tố, phong ba…Ông Ngư  còn gắn với một sự tích còn lưu truyền trong dân gian ở các làng nghề ven biển như sau "Vào cuối thế kỷ 18, Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) bị quân Tây Sơn truy duổi, trên đường tẩu quốc Nguyễn Ánh đã vượt biển đến các đảo xa đất liền khi đi ngoài biển gặp cơn bão dữ thuyền của Vương đã bị nhấn chìm. Trong cơn thập tử nhất sinh, Vương lên tiếng cầm nguyên, đúng lúc đó có 1 đàn cá voi (Ông Ngư) xuất hiện che chở, cá làm thành 1 vùng nước yên giữa bão biển hung dữ và đã đưa thuyền của Vua, vương mẫu, vương phi và đoàn tùy tùng cập đảo an toàn. Khi Nguyễn Ánh chiến thắng Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế(1802), nhớ lại chuyện xưa vua sắc phong cho các làng ven biển không được hại Ông Ngư, phải lập đền thờ và sắc phong cho Ông Ngư tôn hiệu " Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân Chi Thần").

Theo ngư dân truyền lại Lăng Ông Ngư ở Nam Ô được xây dựng từ thời Vua Gia Long yên định cơ đồ (1802). Lúc đầu Lăng có kiến trúc nhơ sườn gỗ, tường đá trác vôi vữa, mái lợp lá kè đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) Lăng được tôn tạo to đẹp hơn. Năm Bảo Đại thứ 10 (1935), Lăng được làm mới, mái lợp ngói âm dương, từ đó đến nay Lăng được sửa chữa gia cố nhiều lần nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, tôn nghiêm, nằm trên khuôn viên rộng chừng 360m2, cách mép nước biển khoảng 50m ở khu vực tổ 35 phường Hòa Hiệp Nam.

Là vùng đất có lịch sử khai phá hàng mấy trăm năm người dân Hòa Hiệp Nam nói chung và người dân Nam Ô2 đã tạo dựng 1 đời sống văn hóa tinh thần phong phú cho lễ hội Cầu Ngư, trong đó có phần lễ và phần hội:

Phần lễ được mở đầu với lễ vọng Ông Sanh (lễ bến) với ước nguyện cầu ngư đắc vọng. Bàn hương án lập sát bờ vọng ra biển đông. Lễ bến được tiến hành qua ban nghi lễ gồm các ông: Chủ lễ, 2 ông tả hữu, ông tư lễ xướng đọc văn tế đúng nghi thức cổ truyền, có chiêng, trống và nhạc lễ phụ họa, lễ vật dây cúng gồm hoa, quả, xôi, gà…các cụ bô lão thanh niên trai tráng trong làng mặc áo dài đầu đội mão đứng thành 2 hàng rất trang nghiêm. Bài văn tế với nghi thức truyền thống dân gian thể hiện tấm lòng tôn kính, biết ơn của ngư dân đối với sự che chở của cá Ông và các bậc tiền nhân có công xây dựng và truyền lại kinh nghiệm nghề biển cho thế hệ hôm nay. Sau phần lễ là phần hội với nhiều môn thi mang đậm bản sắc vùng biển như đua thuyền, lắc thúng, đẩy gậy, kéo co… buổi tối dân làng tổ chức thuê đoàn tuồng về hát phục vụ bà con với nội dung phong phú, lành mạnh.

Là vùng đất được bao bọc bởi núi, sông hùng vĩ, biển cả bao la, Nam Ô2 được xem là nơi có phong cảnh hữu tình, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc địa phương. Sắc màu văn hóa ấy đã được thể hiện sinh động trong lễ hội cầu ngư. Lễ hội kết thúc cũng là niềm mong ước, là khát vọng của người dân được thần Nam Hải che chở. Ai nấy đều tin tưởng vụ ra khơi sẽ thuận buồm xuôi gió, tôm cá đầy ghe. Đó là sự tín ngưỡng thiêng liêng của người dân nơi đây được truyền qua bao thế hệ. Lễ hội cầu ngư cũng đã và sẽ mãi tôn tạo trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân vùng biển dù cuộc sống có trải qua bao thăng trầm và khó khăn trong cuộc mưu sinh để tồn tại và phát triển.
 
                Thu Hương(Đài truyền thanh quận)