Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Chuyển tới trang đầy đủ
Quay lại

Di tích lịch sử văn hóa Miếu Hàm Trung

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA MIẾU HÀM TRUNG

 

Phường Hoà Hiệp Nam, Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

1. Tên gọi :

          Miếu Hàm Trung.

          Tên thường gọi: Miếu Cây Dự.

          Trước đây xung quanh Miếu là khu rừng có nhiều cây cối, đặc biệt trong khu vực Miếu có một cây Dự rất to cao. Do đó nhân dân địa phương còn gọi Miếu này là Miếu Cây Dự.

2. Địa điểm phân bố di tích, đường đi đến :

          Di tích Miếu Hàm Trung trước dây thuộc ấp Hàm Trung, làng Xuân Thiều, tổng Bình Thời Hạ, huyện Hoà Vang, nay là tổ 18 phường Hoà Hiệp Nam, Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

          Miếu Hàm Trung cách Đà Nẵng khoảng 12 km về phía Tây Bắc. Để đi đến di tích này từ Trung tâm thành phố Đà Nẵng ta theo quốc lộ 1A hoặc theo đường Nguyễn Tất Thành tới gần UBND phường Hoà Hiệp Nam sẽ có một con đường bê tông rộng 3m dẫn vào làng Xuân Thiều. Theo con đường này khoảng 1 km nữa sẽ đến miếu Hàm Trung ( Cây Dự ).

 

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính của di tích :

          Miếu Hàm Trung ban đầu được làm bằng tranh tre, đến năm Tự Đức thứ 13 (1860 ) dân làng Xuân Thiều mới đóng góp công sức, tiền của để xây dựng Miếu như ta thấy ngày nay. Miếu được xây dựng để thờ hai Bà mà theo Thần phả ghi là "Hồ ly cửu vĩ tiên nương thần vị tiền " và " Phấn nhĩ quỹ vương tiên nương thần vị tiên " . Đây là hai vị thần bảo trợ cho dân làng. Hàng năm dân làng đều tổ chức cúng cầu an tại Miếu cầu mong hai Bà phù hộ cho dân làng yên ổn làm ăn.

          Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Miếu Hàm Trung là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử xảy ra. Đây là nơi mà cơ quan cách mạng xã Tân Hiệp (Sau này là xã Hoà Hiệp ) đóng trụ sở trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. Ngày 15/01/1946 chính tại Miếu đã diễn ra lễ thành lập Chi bộ đầu tiên của Xuân Thiều với việc kết nạp ba đồng chí Phạm Tương Phùng, Phạm Sỹ Kiêng, Phạm Sỹ Cư ( Bí thư ) do Đồng chí Chế Viết Tấn, Chủ tịch Huyện Hoà Vang tổ chức kết nạp.

          Trong những năm 1947 - 1954, Miếu thường xuyên là trạm dừng chân của cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 96, 108 khi về hoạt động tại cánh Tây Bắc Hoà Vang. Có lần, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 Nguyễn Bá Phát ( Sau này là tư lệnh Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản ) đã về đây nói chuyện, thăm hỏi nhân dân địa phương, mục đích là để nghi binh cho Trung đoàn 108 đánh trận Gò Cà thắng lợi vào năm 1950.

          Trong kháng chiến chống Mỹ năm 1973 để chuẩn bị cho công cuộc giữ đất giành dân, thực hiện Hiệp định Pari, nổng cát ngay phía sau Miếu Hàm Trung là địa điềm tập kết 66 tấn gạo nhằm phục cho cán bộ và nhân dân trong chiến dịch này. Ngày nay, vào ngày 12/4 âm lịch hàng năm, nhân dân Xuân Thiều tổ chức cúng cầu an cầu mong Thánh thần phù hộ cho dân làng bình an, xóm làng thịnh vượng.

 

4. Loại hình di tích:

          Di tích Miếu Hàm Trung thuộc loại hình di tích Lịch sử - Văn hoá.

 

5. Khảo tả di tích :

          Miếu Hàm Trung toạ lạc trên một khu đất cao, phía trước là cánh đồng lúa rộng, xa hơn là dãy Hải Vân sừng sững làm tiền án, "Chẩm " là bãi cát trắng Xuân Thiều ở phía sau. Xung quanh Miếu có nhiều cây đại thụ. Tương truyền nơi đây xưa kia là khu rừng rậm rạp có nhiều thú dữ. Miếu tuy không rộng nhưng duyên dáng, thoáng mát với chiều ngang 9m chiều dài 12m, được xây dựng bằng các loại vật liệu như gỗ, gạch ngói, vôi cát. Miếu được xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ truyền ba gian hai chái, mái lợp ngói âm dương. Trên nóc Miếu là mô típ quen thuộc trong kiến trúc đình chùa Việt Nam với hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt được áp nổi bằng sành sứ. Bên trong Miếu chia làm hai phần: Phần hậu tẩm và phần chính điện.

          Phần chính điện có chiều rộng 9m, chiều dài 8m với 12 cột cái và 8 cột quân. Bốn cột chính cao 4m, các cột quân cao hơn 3m. Các hàng cột liên kết theo kiến trúc khung với hai con đội vươn lên từ hai thanh trính để chống đỡ đòn đông. Trên đòn đông có khắc hàng chữ: "Tự Đức thập tam niên, nhị nguyệt thập, tam nhật Xuân Thiều cát tạo ". Nghĩa là: " Làng Xuân Thiều ngày 03 tháng 02 năm Tự Đức thứ 13 tạo lập". Bộ vì kèo được thiết kế theo lối kèo chuyền (Tam đoạn ). Các thanh kèo được chạm khắc một cách tỉ mĩ, tài hoa với trí tưởng tượng bay bổng. Ba thanh kèo nhất, kèo nhì, kèo ba được chạm liên kết thành hình một con rồng mà đuôi ở trên, đầu xuôi xuống như đang từ trên trời sà xuống. Các hoa văn trang trí khác như các đường viền, mây cuộn, hoa lá, muông thứ điểm xuyết thêm làm cho chúng càng thêm sinh động, gợi cảm.

          Phần hậu tẩm rộng 3m, dài 4m có năm bàn thờ: Bàn thờ trong cùng thờ hai Bà, ba bàn thờ giữa thờ các bậc tiền bối. Bàn thờ ngoài thờ thần bảo hộ cho dân làng. Trên các cột và thanh xuyên là khuôn bông, thành vọng với các mô típ quen thuộc như bát bưu, hoa lá, cỏ cây được chạm khắc một cách tỉ mĩ qua nét đục tài hoa của người thợ.

          Sân Miếu rộng 12m, dài 14m có nhà chuông ở phía tả và nhà trống ở phía hữu. Mỗi nhà diện tích 2m x 2m với mái hình chóp nhọn được chống đỡ bằng bốn trụ gạch mà không có tường che chắn xung quanh. Trên hai trụ của nhà trống và nhà chuông đều có chạm hai câu đối. Hai câu đối ở nhà để trống là:

Thạnh Hỷ hồ đức nhi phất khai

Khấu chi dã ứng nhi phu hưởng

Tạm dịch: Đức hạnh mở ra mọi người đều được hưởng

Và hai câu đối ở nhà chuông là:

Chung lưu đại chúc chi văn chương

Cổ ích thái hoà chi nguyên khí

Tạm dịch:              Tiếng chuông vang lên xem là văn chương

                             Tiếng trống thanh bình chính là nguyên khí

          Trước sân là một bức bình phong che chắn cho một bàn thờ ở sân. Mặt trong của bình phong được ghép sành sứ với dòng chữ: Hàm Trung tự. Mặt trước của bình phong là một con sư tử đang nhào lộn được đắp nổi rất tinh tế. Từ sân theo bảy bậc cấp đi xuống là một hồ nước hình bán nguyệt với dòng nước mạch ngầm luôn đầy ắp kể cả khi nắng hạn. Men theo hai bên hồ ra phía trước là một bức bình phong che chắn tà khí cho ngôi Miếu. Bức bình phong cao 2m rộng 3m, mặt trong được đắp nổi mô típ " Long mã tải hà đồ ", mặt ngoài là hổ mẹ và bốn con hổ con đang đùa giỡn. Hai bên bình phong là hai trụ cột cổng cao 5m đường kính 40cm được tạo dáng hình ngọn bút. Hai con rồng được đắp nổi quấn quanh hai cột cổng này. Tất cả đều được chạm đắp rất công phu và đẹp mắt. Mặt trước của bình phong có hai câu đối được ghép bằng sứ như sau :

Tam xuân cảnh sắc hoà thiên địa

Nhi khí lương năng tự cổ kim

Tạm dịch là :

Ba xuân cảnh sắc hoà cùng trời đất

Không khí trong lành từ xưa đến nay

Mặt sau bình phong cũng có hai câu đối được ghép bằng sành sứ ở hai bên:

Đối thạch hùng sơn phong tháp bút

Tuần từ cô thuỷ hao khai Đường

Tạm dịch là:

Hai trụ đá hùng vĩ ta cho đó là tháp bút

Dòng nước ngầm được xem là nơi phát xuất nhà Đường.

          Phía hai bên câu đối này là hai con hạc đang đứng trên hai con rùa được đắp nổi bằng sành sứ khá đẹp mắt.

          Đứng trước nhìn vào, ngôi miếu trông trang nghiêm cổ kính bởi vẻ cổ xưa của nó nhưng vào đến sân Miếu ta có cảm giác thư thái, thân quen như đây là ngôi đình làng quen thuộc. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn theo thời gian. Vì vậy chúng ta có nhiệm vụ phải gìn giữ di tích này như là một di sản quí báu của cha ông để lại.