Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Chuyển tới trang đầy đủ
Quay lại

Đặc san tuyên truyền pháp luật - Chủ đề: Pháp luật về Tài nguyên nước

PHẦN 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

 

I. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM

 

1. Khái niệm tài nguyên nước

 

 Tài nguyên nước là một thành phần gắn với mức độ phát triển của xã hội loài người tức là cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ mà tài nguyên nước ngày càng được bổ sung trong ngân quỹ nước các quốc gia. Thời kỳ nguyên thuỷ, tài nguyên nước chỉ bó hẹp ở các khe suối, khi con người chưa có khả năng khai thác sông, hồ và các thuỷ vực khác. Chỉ khi kỹ thuật khoan phát triển thì nước ngầm tầng sâu mới trở thành tài nguyên nước. Và ngày nay với các công nghệ sinh hoá học tiên tiến thì việc tạo ra nước ngọt từ nước biển cũng không thành vấn đề lớn. Tương lai các khối băng trên các núi cao và các vùng cực cũng nằm trong tầm khai thác của con người và nó là một nguồn tài nguyên nước tiềm năng lớn.

 

Nước là thành phần cấu thành quan trọng của tất cả mọi sinh vật, gồm cả con người. Chúng ta sử dụng nước trong hầu hết các hoạt động hằng ngày, từ phục vụ sinh hoạt gia đình như ăn, uống, vệ sinh, chăm sóc sức khỏe đến sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp. Nước là thành phần chính của môi trường sống. Nguồn tài nguyên quan trọng này đã tạo dựng nên xã hội loài người với sự đa dạng về xã hội, văn hóa và tôn giáo tín ngưỡng ở khắp mọi nơi.

 

Nước được coi là tài nguyên thiên đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự sống trên Trái đất. Hiểu theo nghĩa rộng thì tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau như hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.

 

Tuy nhiên theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 1998 thì tài nguyên nước có phạm vi hẹp và cụ thể hơn. Theo đó, Điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 1998 quy định "Tài nguyên nước quy định trong Luật này bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa được quy định tại các văn bản pháp luật khác. Nước khoáng, nước nóng thiên nhiên do Luật khoáng sản quy định".

 

Như vậy, tài nguyên nước theo Luật Tài nguyên nước năm 1998 bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, còn có những nguồn nước khác thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác như nước khoáng và nước nóng thiên nhiên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật khoáng sản. Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa - được quy định trong các văn bản pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. Nước trong không khí được bảo vệ theo quy chế bảo vệ không khí.

 

Luật Tài nguyên nước được Quốc hội khóa VIII thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 21 tháng 6 năm 2012 đã kế thừa quy định này tại khoản 1, Điều 2 và mở rộng hơn. Theo đó, "Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

 

2. Hiện trạng tài nguyên nước của Việt Nam

 

2.1. Tài nguyên nước mặt

Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa).

 

Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%.

 

Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.


Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%). Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%).

 

Những thách thức trong tương lai

 

Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làm gia tăng mạnh nhu cầu dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Tài nguyên nước (xét cả về lượng và chất) liệu có đảm bảo cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội trong hiện tại và tương lai của nước ta hay không? Đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm. Trước hết, sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng.

Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai. Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một năm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó.

 

Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình toàn năm.

 

Nhu cầu dùng nước tăng lên mạnh mẽ

 

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm 85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới 70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Đặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất.


Cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước

 

Như trên đã nêu, sự gia tăng dân số và các hoạt động của con người sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng. Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào các thuỷ vực... đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt. Nguy cơ thiếu nước sạch càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít.

 

Tác động của biến đối khí hậu toàn cầu

 

Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,50C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

 

Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt.

 

Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nước. Cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng, khủng hoảng nước hiện nay không chỉ do nước quá ít không đủ để thoả mãn nhu cầu của con người mà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môi trường gánh chịu hậu quả.

 

Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc công bố ngày 05/3/2003 được thảo luận tại diễn đàn thế giới lần thứ 3 về nước, tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) từ ngày 16-23/3/2003 cho thấy, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt một cách đáng lo ngại do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường cùng với nhiệt độ trái đất nóng lên sẽ làm mất đi khoảng 1/3 nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới. Hiện nay đã có khoảng 12.000 km3 nước sạch trên thế giới bị ô nhiễm, hàng năm có hơn 2,2 triệu người chết do các căn bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm và điều kiện vệ sinh nghèo nàn.

Tóm lại, khan hiếm và thiếu nước là mối đe doạ rất nghiêm trọng đối với sự tồn tại của con người trong tương lai. Vì lẽ đó, cần có các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên nước. Trước hết, cần phải củng cố, bổ sung mạng lưới điều tra quan trắc tài nguyên nước, bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất, cả lượng và chất, hình thành mạng lưới quan trắc điều tra tài nguyên nước thống nhất trong phạm vi cả nước, tiến hành kiểm kê đánh giá tài nguyên nước trong các lưu vực sông, các vùng và toàn lãnh thổ. Trên cơ sở kiểm kê đánh giá tài nguyên nước và cân bằng kinh tế nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia nói chung và cho các lưu vực nói riêng. Cần thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên Nước và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng Tài nguyên Nước Quốc gia và Ban quản lý lưu vực các sông.

 

2.2. Tài nguyên nước dưới đất

 

Nước ngầm là nguồn nước có tiềm năng trữ lượng lớn, đặc biệt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Tài nguyên nước ven biển và các vùng đất ngập nước nội địa có tầm quan trọng cao cho việc bảo tồn, duy trì chức năng sinh thái và đa dạng sinh học đất ngập nước. Điển hình là các vùng như  hồ Ba Bể (Bắc Kạn),  đất ngập nước Xuân Thủy (Nam  Định), Tiền Hải (Thái Bình), Bàu Sấu (Đồng Nai), Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) và Tràm Chim (Đồng Tháp). 

 

Nước ta có trữ lượng nước ngầm khá phong phú. Theo đánh giá sơ bộ, tổng trữ lượng động của nước dưới đất trong cả nước ước tính khoảng 63 tỷ m3/năm, đáp ứng được 60% nhu cầu nước ngọt của đất nước.

 

Ở vùng đông bằng châu thổ, nước ngầm ở độ sâu từ 1 - 200m, ở miền núi nước ngầm thường ở độ sâu 10 - 150m, còn ở vùng núi đá vôi nước ngầm ở độ sâu khoảng 100m. Đặc biệt vùng Tây Nguyên, nước ngầm thường sâu vài trăm mét, còn ở một số nơi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như Hà Tiên, Cà Mau, Bến Tre… nước ngầm thường bị nhiễm mặn, dân đến tình trạng thiếu nước ngọt. Nước ta cũng đã phát hiện được 350 nguồn suối khoáng, trong đó có 169 nguồn nước có nhiệt dộ trên 300C.

 

Tuy nhiên, ở những vùng khai thác nước tập trung thì mực nước dưới đất đang bị sụt giảm nghiêm trọng. Ở Hà Nội, mực nước dưới đất đã giảm đi hơn 1m mỗi năm ở một số vùng và đã giảm đi tổng cộng 30 m. Ở TP Hồ Chí Minh, mực nước dưới đất cũng giảm đi tới 30 m.

 

II. THỰC TRẠNG BẢO VỆ, QUẢN LÝ, KHAI THÁC TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

1. Những thành tựu trong công tác bảo vệ, khai thác, quản lý và sử dụng tài nguyên nước

 

Trong những năm qua, Nhà nước đã từng bước xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý bảo vệ chất lượng nước tạo cơ hội để khắc phục dần tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước. Công tác bảo vệ tài nguyên nước đã được chú trọng hơn, cụ thể như sau:

 

1.1. Về công tác bảo vệ tài nguyên nước

 

Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định về bảo vệ tài nguyên nước đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước. Ngay sau khi Luật Tài nguyên nước năm 1998 được ban hành, Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, trong đó phải kể đến các quy định quan trọng về bảo vệ tài nguyên nước như: Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định số 149/2004/NĐ-CP về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; Nghị định số 34/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước; Nghị định số 88/2007/NĐCP ngày 28/5/2007 về thoát nước đô thị và khu công nghiệp; Nghị định số 112/2008/NĐ-CP về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa, thủy điện; Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông; Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT về việc ban hành Quy định bảo vệ tài nguyên nước dưới đất; Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT Quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước…

 

Nhà nước đã đầu tư, khuyến khích đầu tư, nâng cấp, cải tạo các hệ thống xử lý nước thải ở các khu đô thị, khu công nghiệp v.v... Từng bước xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường và nguồn nước theo tinh thần Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Việc bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước gắn với việc bảo vệ và phát triển rừng đã được thực thi bằng nhiều chương trình của Nhà nước như chương trình 135 về xoá đói, giảm nghèo và phủ xanh đất trống, đồi trọc.

 

Nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa tài nguyên rừng và tài nguyên nước, Nhà nước đã ban hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 về dự án trồng 5 triệu ha rừng; Chương trình 327 của Chính phủ thực hiện việc giao đất, giao rừng cho dân nuôi trồng, khai thác và bảo vệ v.v…

 

Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, việc bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước không chỉ gắn với bảo vệ và phát triển rừng mà cần có những quy định về ngưỡng khai thác, dòng chảy tối thiểu trong sông.

 

Xây dựng các chương trình, dự án phủ xanh đất trống, đồi trọc, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, các dự án xoá đói giảm nghèo v.v... để tăng cường bảo vệ lưu vực, chống suy thoái nguồn nước. Nhờ vậy, tình hình mặt đệm của một số lưu vực sông đã được cải thiện đáng kể, như một số tỉnh miền núi của lưu vực sông Hồng: Lạng Sơn, Hoà Bình, Sơn La. Thực hiện các hoạt động, dự án quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực các sông: Hồng - Thái Bình, Cửu Long, Đồng Nai, Đáy, Cầu, Vu Gia - Thu Bồn, Serepok... Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông, trong đó bảo vệ môi trường nước lưu vực sông là một trong những nội dung quan trọng, được ưu tiên hàng đầu. Việc thực hiện quản lý tổng hợp lưu vực sông là một trong những bước đi quan trọng để tăng cường quản lý, bảo vệ lưu vực và nâng cao hiệu quả sử dụng nước, đất và các tài nguyên liên quan khác.

 

Thiết lập mạng quan trắc ở một số địa phương để phục vụ công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Thủ tướng Chính phủ đã trình ban hành Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 về việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020". Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan có liên quan đang triển khai thực hiện Quyết định này.

 

1.2.  Về hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên

 

Các hộ dùng nước chủ yếu là nông nghiệp, nước cho sinh hoạt, công nghiệp và thuỷ sản với tổng lượng nước dùng hiện tại khoảng 80 tỷ m3, trong đó nông nghiệp là 66 tỷ m3, công nghiệp dùng 3,8 tỷ m3, sinh hoạt 2,3 tỷ m3 và thuỷ sản 8,8 tỷ m3. Tính bình quân, lượng nước sử dụng cho nông nghiệp chiếm 82%, nước cho công nghiệp chiếm 3,7%; nước cho sinh hoạt: 3,0% và nước cho thuỷ sản: 11%. Cơ cấu sử dụng nước đang có xu hướng tăng dần cho công nghiệp, thuỷ sản và sinh hoạt.

 

Khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã được các chủ thể thực hiện một cách hợp lý, dần đi vào quy củ và có tính đến yếu tố phát triển bền vững.

1.3. Công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ lụt và tác hại khác do nước gây ra

 

Lũ, lụt và các tác hại khác do nước gây ra luôn luôn là mối quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Ngày 16 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tại đến năm 2020. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban Phòng chống lụt bão chỉ đạo việc thực hiện Chiến lược này.

 

Theo đó, kế hoạch phòng, chống thiên tai đã được triển khai trên phạm vi cả nước đến từng cơ sở thông qua hoạt động của Ban chỉ đạo Phòng, chống lụt bão Trung ương đến Ban chỉ đạo Phòng, chống lụt bão của các ngành, các địa phương và cấp cơ sở theo phương châm 4 tại chỗ được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Hằng năm ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương và huy động sức dân đã dành một phần quan trọng để đầu tư tu bổ các công trình phòng, chống thiên tai: xây dựng cụm dân cư vượt lũ, đê điều, chống sạt lở đất, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn.

 

Để phòng, chống lũ, lụt, hiện cả nước đã xây dựng được 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23.000 km bờ bao, hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm ki lô mét kè bảo vệ bờ. Hệ thống đê sông Hồng - Thái Bình có khả năng bảo vệ thành phố Hà Nội với mức nước lũ thiết kế là 13,4 m và chống lũ cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng với mực nước lũ 13,1 m ở Hà Nội, 7,21 m ở Phả Lại. Hệ thống bờ bao và các công trình liên quan ở đồng bằng sông Cửu Long có khả năng phòng, chống được lũ sớm và lũ tiểu mãn. Hệ thống đê sông Mã, sông Cả có thể chống được lũ với tần suất 2-2,5%. Hệ thống đê biển có thể chịu được bão cấp 9 và triều cường trung bình ứng với tần suất 10%.

 

1.4. Hoạt động khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

 

Trước năm 1955, cả nước chỉ có 13 hệ thống thuỷ lợi tưới cho trên 400.000 ha, tiêu nước cho 77.000 ha. Tính đến nay, cả nước đã xây dựng được trên 100 hệ thống thủy lợi vừa và lớn; trên 2.000 hồ chứa có dung tích lớn hơn 0,2 triệu m3 với tổng dung tích là 24,8 tỷ m3 (trong đó 10 hồ chứa thuỷ điện có tổng dung tích là 19 tỷ m3) và 1.957 hồ còn lại có nhiệm vụ chính là tưới; hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn; trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa (trong đó có trên 2.000 trạm bơm lớn) với tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h; 5.700 km đê sông; trên 2.000 km đê biển; 23.000 km bờ bao chống lũ và bảo vệ lúa hè thu.

 

Các công trình thủy lợi đã đem lại hiệu quả to lớn trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lương thực, đồng thời đã hạn chế được thiên tai, hạn hán, lũ, lụt nặng nề trong những năm qua. Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên.

 

1.5. Công tác cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

 

Cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ và Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

 

Tính đến tháng 4 năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 366 giấy phép, trong đó có 80 giấy phép thăm dò nước dưới đất; 88 giấy phép khai thác nước dưới đất; 88 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; 15 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 95 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.

 

Theo thống kê sơ bộ từ 55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đến nay các tỉnh đã cấp được 5.484 giấy phép về TNN, trong đó có 1.452 giấy phép thăm dò nước dưới đất; 2.814 giấy phép khai thác nước dưới đất; 280 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; 444 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và 258 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.

 

2. Một số tồn tại, hạn chế

 

2.1. Đối với công tác quy hoạch tài nguyên nước

 

Mặc dù Luật Tài nguyên nước năm 1998 đã xác định vai trò của việc xây dựng và thực hiện quy hoạch tài nguyên nước; quy định mọi hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải tuân thủ quy hoạch tài nguyên nước. Tuy nhiên, công tác quy hoạch tài nguyên nước còn chậm, do Luật mới chỉ quy định về nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể về nội dung, trình tự thủ tục lập, thẩm định, thẩm quyền phê duyệt....Bên cạnh đó, chưa có cơ chế, biện pháp cụ thể để bảo đảm quy hoạch khai thác, sử dụng nước của các ngành, lĩnh vực có liên quan đến sử dụng tài nguyên nước phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước, bảo đảm sử dụng tổng hợp, hiệu quả và đa mục tiêu các nguồn nước.

Việc thiếu quy hoạch, cùng với thiếu một tổ chức đủ mạnh để điều phối các hoạt động trên lưu vực đã phát sinh những vấn đề liên ngành, liên địa phương cần giải quyết nhưng chưa được phối hợp xử lý kịp thời.

 

Những vấn đề trên dẫn tới việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý, chưa bảo đảm tổng hợp, hiệu quả; chưa gắn kết giữa khai thác, sử dụng với bảo vệ, với phòng, chống tác hại do nước gây ra; quản lý chất lượng và số lượng không đi đôi với nhau và cũng làm hạn chế hiệu quả thực thi của Luật trên thực tế.

 

2.2. Đối với công tác điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước

 

Điều tra cơ bản, quan trắc, dự báo, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước và thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước là nền tảng cơ bản của công tác quy hoạch, quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ và phòng, chống tác hại do nước gây ra. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể trong Luật, mới chỉ quy định các nguyên tắc về trách nhiệm thực hiện điều tra cơ bản; thiếu các quy định về  nguyên tắc, nội dung, yêu cầu, phân công, phân cấp trách nhiệm thực hiện...

 

Điều đó đang là những trở ngại lớn cho việc triển khai các hoạt động điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước, dẫn đến thông tin, số liệu về tài nguyên nước vừa thiếu, vừa phân tán và không đồng bộ; không nắm được tài nguyên nước quốc gia; không dự báo sớm được tình hình tài nguyên nước để có những biện pháp chủ động ứng phó,... và không đủ thông tin để giải quyết, xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Hệ thống quan trắc, công nghệ, điều tra cơ bản phục vụ công tác dự báo, cảnh báo lũ, lụt, hạn hán, thiếu nước còn nhiều hạn chế, chưa bảo đảm chủ động trong việc kiểm soát lũ, hạn ở nhiều lưu vực sông. Chưa có ngân hàng dữ liệu tài nguyên nước quốc gia. Chế độ báo cáo, cung cấp dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước, về khai thác, sử dụng nước của các ngành, các địa phương và các tổ chức, cá nhân chưa được coi trọng.

 

2.3. Đối với công tác bảo vệ tài nguyên nước

 

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước còn thiếu và chưa đồng bộ, không có điều luật quy định về bảo vệ các hệ sinh thái thủy sinh, bảo vệ lòng, bờ, bãi sông, bảo vệ hành lang bảo vệ nguồn nước và thiếu các quy định về bảo vệ số lượng nước. Một số văn bản được ban hành quá chậm khiến cho việc thực thi các điều luật vào trong cuộc sống còn rất khó khăn.

 

Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, đô thị hoá, một số quy định về bảo vệ tài nguyên nước trong Luật hiện không còn phù hợp, một số nội dung quy định tuy đã có nhưng chưa cụ thể, rõ ràng, một số những vấn đề phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được điều chỉnh, cụ thể:

 

- Bảo vệ tài nguyên nước bao gồm bảo vệ cả số lượng và chất lượng, nước mặt và nước dưới đất. Tuy nhiên, các quy định mới chỉ chú trọng về bảo vệ chất lượng nước và cũng chỉ chú trọng đối với nước mặt, chưa có quy định cụ thể để bảo vệ số lượng nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.

 

- Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước là một trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa ô nhiễm nguồn nước, nhưng thiếu quy định cụ thể để kiểm soát các nguồn gây nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến các mục đích sử dụng nước, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý và chưa gắn kết với pháp luật về bảo vệ môi trường.

 

- Việc bảo vệ các nguồn nước quan trọng như sông, suối, hồ, đầm,.. còn chưa có quy định, cụ thể để kiểm soát các hoạt động ven nguồn nước, có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; chưa có quy định về hành lang để bảo vệ, phòng ngừa ô nhiễm nguồn nước các sông, hồ và nguồn nước quan trọng khác.

 

- Hoạt động quản lý, kiểm soát ô nhiễm nước mới tập trung ở khu vực đô thị và các đoạn sông xung quanh thành phố và khu công nghiệp; những vấn đề về kiểm soát chất lượng nước và ô nhiễm nước ở các vùng nông thôn chưa được quan tâm thoả đáng.    

 

2.4. Đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước

 

Khai thác, sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu tài nguyên nước là một trong những nguyên tắc căn bản trong quản lý hoạt động khai thác, sử dụng nước của các ngành, lĩnh vực, địa phương trên các lưu vực sông.

 

Tuy nhiên, do thiếu các quy định cụ thể, thiếu các biện pháp, chế tài... nên trên thực tế hoạt động khai thác, sử dụng nước chưa được quản lý, điều phối thống nhất dẫn đến hiệu quả sử dụng nước chưa cao; tình trạng sử dụng nước lãng phí, thiếu hiệu quả khá phổ biến.

 

Chưa có kế hoạch điều hòa, phân bổ nguồn nước, thiếu sự điều phối chung trên các lưu vực sông, nên chưa phát huy được hiệu quả của các công trình khai thác nước, kể cả các công trình đa mục tiêu trong việc phối hợp điều tiết nguồn nước phục vụ các yêu cầu phòng, chống lũ, cấp nước cho hạ du và các nhiệm vụ chính của công trình.

 

Nhiều công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã được xây dựng trong nhiều năm qua, song có ít công trình thực sự hoạt động đa mục tiêu và  phát huy hiệu quả sử dụng nước. Trên thực tế, đã xảy ra tình trạng ngay trên một công trình, việc quản lý cũng bị phân tán, chia cắt hoặc việc phối kết hợp trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích khác nhau cũng còn nhiều bất cập dẫn đến hiệu quả hoạt động của công trình thấp.

 

Trong khi đó, nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế không ngừng gia tăng, cân bằng nước giữa cung và cầu nhiều nơi, nhiều lúc không bảo đảm và đã trở thành áp lực lớn, đặc biệt là từ khi chúng ta thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Áp lực đó không ngừng tăng lên do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, do quá trình đô thị hoá quá nhanh, do sự bùng nổ dân số...

 

Việc khai thác nước dưới đất quá mức, chưa có chế tài kiểm soát chặt chẽ đã và đang làm cho mực nước dưới đất ở một số vùng bị hạ thấp quá mức, khó bảo đảm khai thác bền vững nguồn tài nguyên quan trọng này. Bên cạnh đó, chưa có biện pháp để kiểm soát việc thiết kế, thi công các công trình khai thác nước dưới đất; kiểm soát các hoạt động khoan, đào vào lòng đất... đang là những nguy cơ lớn gây ô nhiễm, suy thoái cả số lượng, chất lượng, gây cạn kiệt nguồn nước dưới đất,... và làm gia tăng nguy cơ sụt lún đất, đe doạ tới sự ổn định của các công trình xây dựng và kết cấu hạ tầng ở một số khu vực.

 

Đánh giá chung: Nhìn chung, việc ban hành Luật Tài nguyên nước năm 1998 là một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta. Luật đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chiến lược phát triển đất nước có liên quan đến tài nguyên nước; bước đầu tiếp cận quan điểm hiện đại của thế giới về quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Cùng với các văn bản pháp luật khác về đất đai, khoáng sản, bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, đê điều, phòng chống lụt bão..., Luật Tài nguyên nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài nguyên và môi trường ở nước ta. Nhờ đó, công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào nền nếp, nhất là từ sau khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bên cạnh những mặt tích cực, qua hơn 12 năm thực hiện, Luật Tài nguyên nước cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm, bất cập.

 

PHẦN II

GIỚI THIỆU LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC NĂM 2012

 

I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG  LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC NĂM 2012

 

1.  Sự cần thiết ban hành Luật Tài nguyên nước năm 2012

 

Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế, phục vụ dân sinh ngày càng lớn trong khi nguồn nước có hạn, đặt ra yêu cầu mới về chia sẻ nguồn nước. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu sử dụng nước phù hợp. Ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước diễn ra phổ biến và nghiêm trọng, đang là thách thức lớn trong công tác bảo vệ tài nguyên nước. Mặt khác, biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều mối đe dọa đến tài nguyên nước. Trước tình hình đó, cần phải tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước, mà việc quan trọng trước tiên là hoàn thiện pháp luật về tài nguyên nước.

 

Sau mười hai năm thi hành Luật, nhiều quy định của Luật đã được triển khai trên thực tế và đạt nhiều kết quả khả quan, đặc biệt là đã khai thác, sử dụng tốt hơn các nguồn nước để đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào nề nếp, nhất là từ sau khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được bổ sung, hoàn thiện thêm một bước để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và đòi hỏi từ thực tiễn; công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên nước được tăng cường hơn trước; công tác cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất cũng được triển khai đồng bộ ở cả trung ương và địa phương, v.v...

 

Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật tài nguyên nước năm 1998 trong thời gian qua cho thấy còn một số tồn tại, bất cập, cụ thể là:

 

- Các quy định về khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra liên quan trực tiếp đến quy định của nhiều văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực khác như: Đầu tư, Bảo vệ môi trường, Đất đai, Khoáng sản, Thuế tài nguyên, v.v... Trong khi các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực này đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thì các quy định có liên quan của pháp luật về tài nguyên nước vẫn chưa được điều chỉnh, bổ sung để đồng bộ;

 

- Nhiều quy định của Luật tài nguyên nước năm 1998 đã không còn phù hợp với thực tế, gây khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện; một số quan hệ mới trong khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phát sinh trong thực tiễn cần được bổ sung vào nội dung của Luật; nhiều quy định đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn thi hành, nhưng mới chỉ được thể hiện trong các văn bản dưới luật nên tính pháp lý còn thấp;

 

- Các quy định về cấp phép tài nguyên nước (về điều kiện cấp giấy phép, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép về tài nguyên nước) chưa chặt chẽ;

 

- Luật chưa quy định đầy đủ, toàn diện một số nội dung rất quan trọng của quản lý tài nguyên nước, như: quy hoạch tài nguyên nước; quản lý lưu vực sông; điều hoà, phân bổ nguồn nước một cách hợp lý, cân bằng lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, ngưỡng giới hạn khai thác nước dưới đất. Luật cũng chưa điều chỉnh đầy đủ hoặc rõ các vật thể chứa nước, các công trình điều tiết nước và nguyên tắc vận hành các công trình đó;

 

- Tài nguyên nước là tài sản quốc gia, là tài nguyên đặc biệt quan trọng, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo vệ môi trường nhưng chưa có biện pháp, cơ chế quản lý phù hợp, chưa thực sự coi tài nguyên nước là một loại tài sản; thiếu các quy định, công cụ, biện pháp kinh tế, tài chính để tăng cường trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước nên tình trạng khai thác, sử dụng còn lãng phí, thiếu hiệu quả và không bền vững còn phổ biến;

 

- Trong những năm gần đây, nhận thức về tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển bền vững có sự chuyển biến rõ rệt so với trước. Theo đó, đã đặt ra yêu cầu phải quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; quản lý tài nguyên nước bước đầu đã theo phương thức tổng hợp, sử dụng đa mục tiêu và phải gắn với các tài nguyên thiên nhiên khác. Phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên nước đã được áp dụng thành công ở một số nước trên thế giới và ngày càng chứng tỏ là một phương thức quản lý hiệu quả, được nhiều quốc gia nghiên cứu áp dụng. Ở nước ta, Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 cũng đã đề cập đến quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tuy nhiên, Luật tài nguyên nước hiện hành chưa thể hiện đầy đủ và đúng mức phương thức quản lý này.

 

Thực hiện Nghị quyết số 48/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng Dự án Luật Tài nguyên nước (sửa đổi). Ngày 21 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tài nguyên nước. Luật đã tập trung xử lý các tồn tại nêu trên, thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chiến lược phát triển đất nước có liên quan đến tài nguyên nước và thể hiện quan điểm hiện đại của thế giới về quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

 

2.  Mục đích ban hành Luật Tài nguyên nước năm 2012

 

Trong bối cảnh 2/3 lượng nước của nước ta là từ nước ngoài chảy vào, các quốc gia thượng nguồn đang tăng cường hoạt động khai thác, sử dụng nước, biến đổi khí hậu, nước biển dâng,...cùng với việc sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả, công tác bảo vệ các nguồn nước chưa đáp ứng yêu cầu dẫn đến tình trạng khan hiếm nước, thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng, đồng thời là nguy cơ lớn trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia, thì việc sửa đổi, bổ sung toàn diện và ban hành Luật tài nguyên nước để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên. Từ đó mở đường cho các hoạt động hướng đến mục tiêu bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia, tạo động lực phát triển bền vững ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật sẽ phát huy tác dụng điều chỉnh và phù hợp với thực tiễn của cuộc sống và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước bền vững, hiệu quả hơn; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên nước; nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các nước có chung nguồn nước với nước ta....

 

3.  Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật và các chủ trương, chính sách lớn được thể chế hóa trong Luật

 

Luật Tài nguyên nước năm 2012 được xây dựng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, chính sách sau đây của Đảng và Nhà nước ta:

 

3.1. Về quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật

 

- Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân, là tài sản của Nhà nước và là tài nguyên đặc biệt quan trọng, tư liệu thiết yếu cho cuộc sống của con người, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài.

 

- Khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên khác, đồng thời phải gắn kết chặt chẽ với việc phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

 

- Phải giải quyết cơ bản các vấn đề bức xúc, nổi cộm; xem xét bổ sung quy định những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn; những vấn đề đã có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thì phải quy định chi tiết ngay trong nội dung của Luật.

 

- Kế thừa các quy định của Luật tài nguyên nước năm 1998 đang phát huy tác dụng trên thực tế; bãi bỏ các quy định bất cập; sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành cho phù hợp với thực tiễn; luật hoá một số quy định trong các văn bản dưới luật nhằm tăng giá trị pháp lý của các quy định này.

 

- Tiếp cận đầy đủ quan điểm phát triển bền vững tài nguyên nước theo tinh thần Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janeiro năm 1992 và bốn nguyên tắc về nước và phát triển bền vững được Hội nghị quốc tế Dublin năm 1992 thông qua.

 

- Bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ với các luật chuyên ngành có liên quan và phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; rõ ràng, dễ hiểu và mang tính khả thi cao, góp phần thúc đẩy đầu tư đi đôi với tăng cường bảo vệ, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, gắn với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước.

 

3.2. Các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã được thế hóa trong Luật

 

- Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về tài nguyên nước, vì vậy, các quy định của Luật phải thể hiện rõ các quyền năng của chủ sở hữu, đồng thời Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

 

- Khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ có hiệu quả tài nguyên nước. Tài nguyên nước có thể tái tạo nhưng hữu hạn, nhất thiết phải được khai thác có hiệu quả và sử dụng tiết kiệm, tổng hợp, đa mục tiêu. Đồng thời, phải có các biện pháp chủ động phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước hiệu quả để bảo vệ, gìn giữ tài nguyên nước, bảo đảm khai thác bền vững, lâu dài.

 

- Khuyến khích, ưu đãi các tổ chức, cá nhân nghiên cứu và áp dụng khoa học, công nghệ, đầu tư công trình, thực hiện các biện pháp khai thác, sử dụng nước tổng hợp, đa mục tiêu, tiết kiệm và hiệu quả.

 

- Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước; khuyến khích và huy động sự đóng góp tài chính của mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư trong bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra.

 

- Ưu tiên nguồn vốn đầu tư công tác quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước thông qua các hoạt động điều tra cơ bản về tài nguyên nước, xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo, dự báo về tài nguyên nước, hệ thống thông tin dữ liệu; xây dựng và thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, kế hoạch phòng, chống ô nhiễm, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra và kế hoạch điều hòa, phân phối nguồn nước.

 

- Tăng cường áp dụng các công cụ, biện pháp kinh tế, tài chính trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước nhằm đề cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ tài nguyên nước, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn nước và bảo đảm công bằng trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

 

II. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CỦA LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC

 

1. Bố cục của Luật

 

Luật tài nguyên nước gồm 10 chương với 79 điều, quy định việc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật không điều chỉnh đối với nước khoáng, nước nóng thiên nhiên và nước biển thuộc vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh đó, những vấn đề về lũ, lụt và các tác hại khác của nước do thiên tai gây ra được điều chỉnh bằng pháp luật khác.

 

Cụ thể các chương của Luật như sau:

 

Chương I. Những quy định chung

Chương II. Điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước

Chương III. Bảo vệ tài nguyên nước

Chương IV. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Chương V. Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra

Chương VI. Tài chính về tài nguyên nước

Chương VII. Quan hệ quốc tế về tài nguyên nước

Chương VIII. Trách nhiệm quản lý tài nguyên nước

Chương IX. Thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước

Chương X. Điều khoản thi hành

 

2. Nội dung chính của Luật

 

- Chương I. Những quy định chung: gồm 9 điều  (từ Điều 1 đến Điều 9)

Nội dung chương này quy định về: phạm vi điều chỉnh của Luật; giải thích từ ngữ; nguyên tắc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước,  phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước; phổ biến, giáo dục về tài nguyên nước; lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và các tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; danh mục lưu vực sông, danh mục nguồn nước; lưu trữ, sử dụng thông tin về tài nguyên nước và các hành vi bị nghiêm cấm.

 

- Chương II. Điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước: gồm 2 mục, 15 điều  (từ Điều 10 đến Điều 24)

Mục 1. Điều tra cơ bản tài nguyên nước, gồm 4 điều quy định về: trách nhiệm của Nhà nước trong điều tra cơ bản tài nguyên nước; quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước; các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước.

Mục 2. Chiến lược, quy hoạch tài ngưyên nước, gồm 11 điều quy định về: chiến lược tài nguyên nước; các loại quy hoạch tài nguyên nước; nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch tài nguyên nước; nội dung của quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh và quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước; lập, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước; công bố, tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước và quy định điều kiện của đơn vị tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước.

 

- Chương III. Bảo vệ tài nguyên nước: gồm 14 điều (từ Điều 25 đến Điều 38)

Nội dung của Chương này quy định về: trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước; phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt; quan trắc, giám sát tài nguyên nước; bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; bảo đảm sự lưu thông của dòng chảy; hành lang bảo vệ nguồn nước; bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt; bảo vệ chất lượng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản và các hoạt động khác; phòng, chống ô nhiễm nước biển; bảo vệ nước dưới đất; hành nghề khoan nước dưới đất; xả nước thải vào nguồn nước; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

 

- Chương IV. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước: gồm 3 mục, 19 điều (từ Điều 39 đến Điều 57)

Mục 1. Sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả: gồm 4 điều quy định về các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; hạn chế thất thoát nước trong các hệ thống cấp nước; ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; phát triển khoa học, công nghệ sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

Mục 2. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước: gồm 11 điều quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước; đăng ký, cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt và khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy điện, sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác, chế biến khoáng sản, giao thông thủy và các mục đích khác; thăm dò, khai thác nước dưới đất và quy định về hồ chứa, khai thác, sử dụng nước hồ chứa.

Mục 3. Điều hoà, phân phối tài nguyên nước: gồm 4 điều quy định về điều hòa, phân phối tài nguyên nước; chuyển nước lưu vực sông; bổ sung nhân tạo nước dưới đất và gây mưa nhân tạo.

 

- Chương V. Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra: gồm 6 điều (từ Điều 58 đến Điều 63)

Nội dung Chương này quy định về: trách nhiệm, nghĩa vụ phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại của nước do thiên tai gây ra; phòng, chống hạn hán, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo; phòng, chống xâm nhập mặn; phòng, chống sụt, lún đất; phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông.     

 

- Chương VI. Tài chính về tài nguyên nước: gồm 2 điều (Điều 64 và Điều 65)

Chương này quy định về: nguồn thu ngân sách nhà nước từ hoạt động tài nguyên nước; tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhằm tạo nguồn thu từ tài nguyên nước, bảo đảm công bằng trong khai thác, sử dụng và nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân.

 

- Chương VII. Quan hệ quốc tế về tài nguyên nước: gồm 4 điều (Điều 66 đến Điều 69)

Chương này quy định các nội dung về: nguyên tắc áp dụng trong quan hệ quốc tế về tài nguyên nước; trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam đối với nguồn nước liên quốc gia; hợp tác quốc tế trong quản lý và phát triển tài nguyên nước; giải quyết tranh chấp, bất đồng về nguồn nước liên quốc gia.

 

- Chương VIII. Trách nhiệm quản lý tài nguyên nước: gồm 5 điều (từ Điều 70 đến Điều 74)

Nội dung tại Chương này bao gồm: trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của Ủy ban nhân dân các cấp; điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông; thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước; Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước.

 

- Chương IX. Thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước: gồm 2 điều (Điều 75 và Điều 76)

Chương này quy định về: thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước; giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước.

 

- Chương X. Điều khoản thi hành: gồm 3 điều (từ Điều 77 đến Điều 79)

   Chương này quy định về chuyển tiếp đối với giấy phép tài nguyên nước đã được cấp và việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; hiệu lực thi hành của Luật từ 01/01/2013 và việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

 

3. Những điểm mới của Luật tài nguyên nước năm 2012

 

Luật tài nguyên nước lần này đã bổ sung 39 điều mới hoàn toàn về nội dung và sửa đổi, bổ sung 40 điều của Luật tài nguyên nước năm 1998. Những nội dung mới của Luật được thể hiện ở những chương sau đây:

 

3.1. Những quy định chung (Chương I)

 

Điểm mới trong Luật là bổ quy định để làm rõ tài nguyên nước không chỉ có nước mà còn bao gồm cả sông, suối, hồ chứa,...để tránh bỏ sót đối tượng quản lý; quy định một số dự án liên quan đến khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nước phải lấy ý kiến của cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng của dự án và tổ chức, cá nhân liên quan nhằm đề cao trách nhiệm, minh bạch thông tin về những tác động tiêu cực có thể gây ra ngay từ khi chuẩn bị thực hiện dự án; bổ sung quy định phân loại lưu vực sông, nguồn nước làm căn cứ phân công, phân cấp quản lý và bổ sung quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật. Cụ thể như sau

 

- Đã bổ sung và chỉnh sửa một số giải thích từ ngữ tại Điều 2 nhằm thống nhất trong việc thi hành Luật như: "nguồn nước liên tỉnh", "nguồn nước nội tỉnh", "nguồn nước liên quốc gia", "lưu vực sông liên tỉnh", "lưu vực sông nội tỉnh" để phân biệt rõ các lưu vực sông và các nguồn nước trong từng lưu vực sông; giải thích tách biệt hai thuật ngữ "suy thoái nguồn nước", "cạn kiệt nguồn nước" để phân biệt sự suy giảm về chất lượng nước với sự suy giảm về số lượng nước, bổ sung các thuật ngữ: "dòng chảy tối thiểu ", "ngưỡng khai thác nước dưới đất", "chức năng của nguồn nước" v.v...

 

- Các nguyên tắc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra tại Điều 3 được bổ sung và chỉnh sửa rõ ràng hơn, trong đó kế thừa quy định việc quản lý tài nguyên nước phải bảo đảm thống nhất theo lưu vực sông, tài nguyên nước phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả; bảo đảm nước cho sinh hoạt của nhân dân, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước. Luật bổ sung quy định việc quản lý tài nguyên nước phải theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính; quản lý tổng hợp, thống nhất về số lượng và chất lượng nước; giữa nước mặt và nước dưới đất; nước trên đất liền và nước vùng cửa sông, nội thủy, lãnh hải; giữa thượng lưu và hạ lưu, kết hợp với quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Bổ sung các nguyên tắc về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra như: phải gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; kết hợp bảo vệ chất lượng nước và hệ sinh thái thủy sinh, khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt  nguồn nước.

 

Đồng thời, Luật cũng bổ sung nguyên tắc các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh phải gắn với khả năng nguồn nước, với việc bảo vệ tài nguyên nước; bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, không vượt quá ngưỡng khai thác đối với các tầng chứa nước dưới đất và phải có các biện pháp bảo đảm đời sống dân cư. Nguyên tắc bảo đảm chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, công bằng, hợp lý, các bên cùng có lợi trong bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra đối với các nguồn nước liên quốc gia cùng là điểm mới trong Luật.

 

- Chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước có nhiều điểm mới nhằm thực hiện chủ trương kinh tế hóa lĩnh vực tài nguyên nước, khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Nhà nước đầu tư và có cơ chế khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để quản lý, bảo vệ, phát triển các nguồn nước, xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để tái sử dụng, xử lý nước mặn, nước lợ thành nước ngọt, thu gom, sử dụng nước mưa, bổ sung nhân tạo nước dưới đất, khôi phục nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt. Nhà nước bảo đảm ngân sách cho điều tra cơ bản, quy hoạch tài nguyên nước, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

 

- Luật bổ sung quy định các dự án có xây dựng công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải lấy ý kiến của cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và tổ chức, cá nhân liên quan nhằm đề cao trách nhiệm, minh bạch thông tin về những tác động tiêu cực có thể gây ra ngay từ khi chuẩn bị thực hiện dự án.

 

Đối với các dự án đầu tư có chuyển nước trong phạm vi lưu vực sông nội tỉnh thì ngoài việc lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan trên địa bàn, tổ chức, cá nhân đầu tư dự án còn phải lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện có liên quan, tổ chức lưu vực sông về quy mô, phương án chuyển nước trước khi lập dự án đầu tư; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan và tổ chức lưu vực sông đối với dự án có chuyển nước khác.

 

Đối với các dự án đầu tư xây dựng hồ, đập trên sông thuộc lưu vực sông liên tỉnh mà không có chuyển nước thì ngoài việc lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan trên địa bàn, trước khi lập dự án đầu tư, tổ chức, cá nhân đầu tư dự án còn có trách nhiệm:

 

+ Lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan và tổ chức lưu vực sông về quy mô, phương án đề xuất xây dựng công trình trên dòng chính;

 

+ Thông báo trước với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan và tổ chức lưu vực sông về quy mô, phương án đề xuất xây dựng công trình trên dòng nhánh.

 

Chính phủ sẽ quy định cụ thể việc lấy ý kiến và việc công khai thông tin đối với các trường hợp nêu trên.

 

- Luật bổ sung quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước, trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc vận động nhân dân tham gia bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, chấp hành các quy định của pháp luật và giám sát việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

 

- Lưu trữ, sử dụng thông tin về tài nguyên nước được bổ sung mới, yêu cầu cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài nguyên nước cho tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

 

Tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin về tài nguyên nước phải trả phí sử dụng thông tin theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.

 

- Quy định danh mục lưu vực sông, danh mục nguồn nước làm căn cứ để thực hiện các nội dung quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông, nguồn nước.

 

- Các hành vi bị nghiêm cấm được quy định rõ ràng, cụ thể hơn. Theo đó, Luật đã bổ sung nhiều hành vi như: đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại vào nguồn nước; xả nước thải, đưa các chất thải vào vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vào nguồn nước; xả khí thải độc hại trực tiếp vào nguồn nước; xả nước thải vào lòng đất thông qua các giếng khoan, giếng đào; khai thác trái phép cát, sỏi trên sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa; khai thác khoáng sản, khoan, đào, xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, công trình trong hành lang bảo vệ nguồn nước gây sạt, lở bờ sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa; thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất trái phép; không tuân thủ quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành...

 

3.2. Điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước (Chương II)

 

Về cơ bản, đây là những quy định mới nhằm tăng cường công tác điều tra cơ bản nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin, dữ liệu và quản lý tài nguyên nước theo chiến lược, quy hoạch. Theo đó, Luật đã bổ sung quy định về quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước, chiến lược tài nguyên nước, quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước, quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương. Đồng thời, Luật cũng đã bổ sung quy định trách nhiệm, thẩm quyền trong công tác điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước; quy định điều kiện của đơn vị thực hiện điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước

 

- Lần đầu tiên, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước được quy định nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quy hoạch vùng, chiến lược tài nguyên nước và làm căn cứ cho điều tra cơ bản tài nguyên nước, phục vụ lập quy hoạch tài nguyên nước.

 

Nội dung chính của quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước tại khoản 3 Điều 11 gồm: xác định các yêu cầu về thông tin, số liệu về tài nguyên nước, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên cả nước; rà soát, đánh giá kết quả thực hiện điều tra cơ bản hoặc kết quả thực hiện quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước kỳ trước; xác định các hoạt động điều tra cơ bản cần tiến hành đối với các lưu vực sông, các vùng, các nguồn nước được thực hiện điều tra cơ bản trong kỳ quy hoạch, thứ tự ưu tiên các hoạt động điều tra cơ bản ... Kỳ quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước là 10 năm, tầm nhìn 20 năm.

 

- Chiến lược tài nguyên nước tại Điều 14 cũng là một điều mới, trong đó nội dung chính của chiến lược phải thể hiện: quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, tầm nhìn, mục tiêu về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; định hướng, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, các đề án, dự án ưu tiên thực hiện trong từng giai đoạn trong kỳ lập chiến lược.

 

Chiến lược tài nguyên nước được xây dựng cho giai đoạn 10 năm, tầm nhìn 20 năm theo kỳ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chiến lược trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

 

- Quy hoạch tài nguyên nước gồm 3 loại: Quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước; quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh; quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đối tượng của quy hoạch là nước mặt, nước dưới đất. Kỳ quy hoạch tài nguyên nước là 10 năm và tầm nhìn 20 năm.

 

- Nội dung của các loại quy hoạch được quy định khá rõ ràng, cụ thể, trong đó đối với quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước cần đánh giá tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường, hiện trạng tài nguyên nước, hiện trạng khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; nhận định xu thế biến động tài nguyên nước, nhu cầu khai thác, sử dụng, xác định mục tiêu, nhiệm vụ quản lý, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, yêu cầu chuyển nước giữa các lưu vực sông, xác định các công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nguồn nước quy mô lớn...

 

Đối với quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh và quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bao gồm một hoặc các nội dung: (1) Phân bổ nguồn nước: đánh giá số lượng, chất lượng nguồn nước, hiện trạng khai thác, sử dụng; phân vùng chức năng của nguồn nước; xác định tỷ lệ phân bổ tài nguyên nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng, thứ tự ưu tiên và tỷ lệ phân bổ trong trường hợp hạn hán, thiếu nước, nguồn nước dự phòng để cấp nước sinh hoạt trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước; xác định hệ thống giám sát tài nguyên nước, giám sát khai thác, sử dụng, nhu cầu chuyển nước giữa các tiểu lưu vực trong lưu vực sông, nhu cầu chuyển nước với lưu vực sông khác...; (2) Bảo vệ tài nguyên nước: xác định yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước và các hệ sinh thái thủy sinh, các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; đánh giá diễn biến chất lượng nước, phân vùng chất lượng nước; xác định công trình, biện pháp phi công trình bảo vệ nguồn nước, hệ thống giám sát chất lượng nước, xả nước thải vào nguồn nước; (3) Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra: xác định khu vực bờ sông bị sạt, lở, bị sụt, lún đất hoặc có nguy cơ bị sạt, lở, bị sụt, lún đất, xâm nhập mặn do thăm dò, khai thác nước dưới đất; đánh giá tình hình, diễn biến, xác định nguyên nhân và phân vùng tác hại do nước gây ra; đánh giá tổng quát hiệu quả, tác động của công trình, biện pháp phi công trình; xác định giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, chất lượng và hiệu quả của hệ thống cảnh báo, dự báo; giải pháp, kinh phí, kế hoạch và tiến độ thực hiện các loại quy hoạch này. 

 

- Nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước, lập, phê duyệt, điều chỉnh, công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước là những điều mới được quy định trong Luật. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước.

 

3.3. Bảo vệ tài nguyên nước (Chương III)

 

Điểm mới của Luật là bổ sung quy định cụ thể về các biện pháp phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, ứng phó và khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; quy định giám sát tài nguyên nước, các hoạt động khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; quy định hành lang bảo vệ nguồn nước, các biện pháp bảo vệ lòng, bờ, bãi sông, bảo đảm sự lưu thông của dòng chảy... nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước để bảo vệ số lượng, chất lượng của nguồn nước và bảo vệ các dòng sông.

 

- Trong việc phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, Luật đã có nhiều quy định mới và cụ thể hơn như: hoạt động khai thác, sử dụng nước phải tuân thủ quy hoạch tài nguyên nước; không xây dựng mới các bệnh viện, cơ sở y tế điều trị bệnh truyền nhiễm, nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải, cơ sở sản xuất hóa chất độc hại, cơ sở sản xuất, chế biến có nước thải nguy hại trong hành lang bảo vệ nguồn nước.

 

Việc xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu du lịch, vui chơi, giải trí tập trung, tuyến giao thông đường thủy, đường bộ, công trình ngầm, công trình cấp, thoát nước, công trình khai thác khoáng sản, nhà máy điện, khu chứa nước thải và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ... phải có phương án phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.

 

Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ra sự cố ô nhiễm nguồn nước phải xây dựng và thực hiện các biện pháp để kịp thời ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước.

 

- Quan trắc, giám sát tài nguyên nước cũng là một điều mới trong chương này nhằm mục đích quy định cụ thể các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm giám sát, theo dõi các nguồn nước đang được dùng cho các mục đích sử dụng khác nhau trên địa bàn và công khai cho nhân dân biết để giám sát. Theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan trắc, giám sát đối với các nguồn nước nội tỉnh. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước quan trắc, giám sát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải của mình theo quy định.

 

 - Nhận thức được tầm quan trọng ngày càng to lớn của rừng đối với việc bảo vệ tài nguyên nước, Luật đã dành một điều quy định về bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy. Theo đó, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hồ chứa, các dự án khai thác, chế biến khoáng sản và các hoạt động khác có sử dụng hoặc ảnh hưởng đến diện tích rừng phải trồng bù diện tích rừng đã bị mất do việc xây dựng công trình hoặc đóng góp kinh phí trồng rừng trong trường hợp địa phương không bố trí được quỹ đất để trồng rừng mới. Tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành hồ chứa phải đóng góp kinh phí cho hoạt động bảo vệ rừng thuộc phạm vi lưu vực của hồ chứa và tham gia bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn.

 

- Luật quy định các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ, bao gồm hồ chứa thủy điện, thủy lợi; hồ tự nhiên, nhân tạo ở các đô thị, khu dân cư; hồ, ao lớn có chức năng điều hòa; đầm, đầm phá; sông, suối, kênh, rạch là nguồn cấp nước, trục tiêu nước hoặc có tầm quan trọng v.v… Đồng thời, Luật cũng quy định trách nhiệm cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước của tổ chức quản lý, vận hành hồ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.

 

- Quy định về bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt được bổ sung, chỉnh sửa, theo đó tổ chức, cá nhân khai thác nước để cấp nước cho sinh hoạt phải thường xuyên quan trắc, theo dõi chất lượng nguồn nước sinh hoạt, bảo đảm chất lượng đối với nguồn nước do mình khai thác; đồng thời có phương án khai thác nguồn nước khác để thay thế trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước đang khai thác.

 

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trong phạm vi địa phương theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường; công bố thông tin chất lượng nguồn nước sinh hoạt, cảnh báo hiện tượng bất thường về chất lượng các nguồn nước trên địa bàn. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện các biện pháp bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại địa phương.

 

- Việc phòng, chống ô nhiễm nước biển được bổ sung mới nhằm bâo đảm tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển phải có phương án, trang thiết bị, nhân lực để phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm nước biển.

 

Trường hợp để xảy ra sự cố gây ô nhiễm nước biển phải kịp thời xử lý, khắc phục và phải thông báo ngay tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguồn thải từ các hoạt động ở vùng ven biển, hải đảo và các hoạt động trên biển phải được kiểm soát, xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi thải vào biển.

 

- Các quy định về bảo vệ chất lượng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản và các hoạt động khác; bảo vệ nước dưới đất; xả nước thải vào nguồn nước; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước về cơ bản được kế thừa, có bổ sung về quy hoạch đô thị, khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải phù hợp với quy mô xả nước thải, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước và phải được cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi trình phê duyệt.

 

Đối với dự án xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có hạng mục đầu tư xây dựng hệ thống thu gom tách riêng nước mưa, nước thải; hệ thống xử lý nước thải; hệ thống tiêu, thoát, dẫn nước thải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

 

3.4. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước (Chương IV)

 

Luật đã bổ sung các quy định về sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; các quy định về quy hoạch, xây dựng và khai thác sử dụng nước của hồ chứa, điều hòa, phân phối tài nguyên nước, các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất nhằm bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và khai thác, sử dụng tổng hợp, hiệu quả, đa mục tiêu các nguồn nước. Đồng thời, điều chỉnh một số nội dung quy định về chuyển nước lưu vực sông, thăm dò, khai thác nước dưới đất, các quy định về khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt, thủy điện và các mục đích khác.

 

- Chương này đã bổ sung một mục hoàn toàn mới về sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Theo đó, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước phải đúng mục đích; có kế hoạch thay thế, loại bỏ dần phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, tiêu thụ nhiều nước; áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; tăng khả năng sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước; đồng thời bố trí cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện nguồn nước; xây dựng, duy tu, vận hành các công trình dẫn nước, giữ nước để tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp...

 

Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức xây dựng mô hình sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và phổ biến, tuyên truyền các mô hình này. Các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng, ban hành theo thẩm quyền quy chuẩn kỹ thuật về sử dụng nước; xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn nghiên cứu áp dụng công nghệ sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và ban hành định mức tiêu thụ nước trong các hoạt động thuộc phạm vi quản lý;...

 

Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy định về sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả.

 

Nhà nước ưu đãi hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả đối với tổ chức, cá nhân đầu tư sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước, thu gom, sử dụng nước mưa, sử dụng nước được khử muối từ nước lợ, nước mặn, đầu tư thiết bị, công nghệ và phát triển khoa học, công nghệ sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

 

- Luật quy định các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước không phải đăng ký, không phải xin phép gồm: (i) khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt của hộ gia đình; (ii) khai thác, sử dụng nước với quy mô nhỏ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; (iii) khai thác, sử dụng nước biển để sản xuất muối; (iv) khai thác, sử dụng nước phục vụ các hoạt động văn hóa, tôn giáo, nghiên cứu khoa học; (v) khai thác, sử dụng nước cho phòng cháy, chữa cháy, ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm, dịch bệnh và các trường hợp khẩn cấp khác theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Việc đăng ký, cấp giấy phép sẽ do Chính phủ quy định cụ thể.

 

- Các quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, thủy điện, sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác, chế biến khoáng sản, giao thông thủy và cho các mục đích khác, thăm dò, khai thác nước dưới đất về cơ bản được kế thừa Luật tài nguyên nước năm 1998. Chỉnh sửa, bổ sung một số quy định về việc tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp phải tuân theo quy trình vận hành; khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện phải có trách nhiệm hỗ trợ người dân nơi có hồ chứa. Hạn chế khai thác nước dưới đất tại các khu vực có nguồn nước mặt đáp ứng ổn định cho các nhu cầu sử dụng nước; khu vực có mực nước dưới đất bị suy giảm liên tục và có nguy cơ bị hạ thấp quá mức; khu vực có nguy cơ sụt, lún đất, xâm nhập mặn, gia tăng ô nhiễm do khai thác nước dưới đất; khu vực có nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm hoặc có dấu hiệu ô nhiễm nhưng chưa có giải pháp xử lý; khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã có hệ thống cấp nước tập trung và dịch vụ cấp nước bảo đảm đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng. Các hình thức hạn chế bao gồm: về đối tượng, mục đích khai thác; lưu lượng, thời gian khai thác; số lượng công trình, độ sâu, tầng chứa nước khai thác.

 

- Hồ chứa và khai thác, sử dụng nước hồ chứa là nội dung được "luật hóa" từ Nghị định số 112/2008/NĐ-CP về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi. Điều mới của chương này quy định các yêu cầu cho việc xây dựng hồ chứa trên sông, suối và khai thác, sử dụng nước hồ chứa. Đối với các ngành, địa phương khi xây dựng quy hoạch phát triển mà có đề xuất xây dựng hồ chứa trên sông, suối thì phải nêu rõ sự cần thiết xây dựng hồ; xác định dòng chảy cần duy trì trên sông, suối; xác định các nhiệm vụ của hồ theo thứ tự ưu tiên; dung tích hồ chứa dành để thực hiện từng nhiệm vụ của hồ chứa. Việc quy hoạch phải được tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng hưởng lợi và đối tượng có nguy cơ rủi ro từ việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước do việc xây dựng hồ chứa để xuất trong quy hoạch gây ra.

 

- Điều hòa, phân phối tài nguyên nước và chuyển nước lưu vực sông được bổ sung nhiều nội dung mới. Theo đó, việc điều hòa, phân phối phải góp phần bảo đảm an ninh lương thực, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, ngưỡng khai thác nước dưới đất; kết hợp khai thác, sử dụng nguồn nước mặt với khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất; tăng cường trữ nước trong mùa mưa để sử dụng cho mùa khô. Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện việc điều hòa, phân phối trên lưu vực sông liên tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện điều hòa, phân phối trong phạm vi địa phương.

 

Việc chuyển nước lưu vực sông phải căn cứ vào chiến lược và quy hoạch tài nguyên nước, chiến lược bảo vệ môi trường, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, ngành, khả năng thực tế của nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước, ảnh hưởng của việc chuyển nước và các điều ước mà Việt Nam là thành viên. Các dự án chuyển nước phải có ý kiến thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.

 

- Bổ sung nhân tạo nước dưới đất là một điều mới quy định việc bổ sung nhân tạo phải dựa trên việc đánh giá cụ thể khả năng thích ứng về số lượng và chất lượng, khả năng giữ và trữ nước của các tầng chứa nước được bổ sung. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan xác định các tầng chứa nước, khoanh định vùng cần bổ sung và phê duyệt phương án bổ sung nhân tạo.

 

3.5. Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra (Chương V)

 

Chương này đã được bổ sung nhiều nội dung mới, trong đó tập trung quy định về phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra có liên quan trực tiếp tới các hoạt động của con người như: phòng, chống hạn hán, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo từ việc vận hành hồ chứa; phòng, chống xâm nhập mặn; phòng, chống sụt, lún đất; phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông. Việc phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại của lũ, lụt, nước biển dâng, mưa đá, mưa axít và các tác hại thiên tai khác do nước gây ra sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về đê điều, phòng, chống lụt, bão và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

- Để việc phòng, chống hạn hán, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo có hiệu quả thì hồ chứa phải có quy trình vận hành được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi tích nước. Hồ chứa lớn, quan trọng trên lưu vực sông phải vận hành theo quy trình vận hành liên hồ chứa đã được phê duyệt. Quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa phải bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu, phòng, chống lũ, lụt, hạn hán, thiếu nước cho hạ du và bố trí dung tích để thực hiện các nhiệm vụ của hồ chứa, bao gồm cả dung tích để phòng, chống lũ, an toàn cấp nước trong điều kiện thời tiết bình thường và bất thường.

 

Thủ tướng Chính phủ sẽ phê duyệt quy trình vận hành liên hồ chứa do Bộ Tài nguyên và Môi trường lập danh mục, xây dựng và trình.

 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành hồ chứa sẽ xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền quy trình vận hành hồ chứa.

 

- Trong việc phòng, chống xâm nhập mặn thì việc quản lý, vận hành các cống ngăn mặn, giữ ngọt và các hồ chứa nước, công trình điều tiết dòng chảy phải tuân theo quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Thăm dò, khai thác nước dưới đất ở vùng đồng bằng, ven biển phải bảo đảm phòng, chống xâm nhập mặn cho nước dưới đất; khai thác nước lợ, nước mặn cho sản xuất không được gây xâm nhập mặn các nguồn nước và làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Luật cũng quy định tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước để sản xuất nông nghiệp phải có biện pháp phòng, chống chua, mặn, xói mòn đất và bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước.

 

- Việc phòng, chống sụt, lún đất cũng rất được chú trọng trong Chương này nhằm hạn chế tình trạng sụt, lún đất đang xảy ra ở một số nơi trên cả nước. Theo đó, tổ chức, cá nhân hành nghề khoan nước dưới đất, khoan thăm dò địa chất, khoáng sản, dầu khí phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn, phòng, chống sụt, lún đất, thực hiện các quy định trong giấy phép. Trường hợp xảy ra sụt, lún đất thì phải dừng việc thăm dò, khai thác, đồng thời thực hiện các biện pháp khắc phục và báo ngay cho chính quyền địa phương nơi gần nhất để kịp thời xử lý.

 

- Hoạt động cải tạo lòng, bờ, bãi sông, xây dựng công trình thủy, khai thác cát, sỏi và các khoáng sản khác trên sông, hồ không được gây sạt, lở, làm ảnh hưởng xấu đến sự ổn định lòng, bờ, bãi sông, hồ và phải được cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

 

Những dòng sông, đoạn sông bị sạt, lở hoặc có nguy cơ bị sạt, lở, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ xác định nguyên nhân gây sạt, lở, đề xuất các giải pháp khắc phục và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, khoanh định khu vực cấm, tạm thời cấm khai thác khoáng sản. Đối với khu vực nằm giữa hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt khu vực cấm, tạm thời cấm khai thác khoáng sản.

 

Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể việc bảo vệ lòng, bờ, bãi sông.

 

3.6. Tài chính về tài nguyên nước (Chương VI)

 

Đây là một chương mới hoàn toàn so với Luật tài nguyên nước năm 1998 khi lần đầu tiên trong Luật này tài nguyên nước được coi là tài sản bằng việc quy định nguồn thu từ tài nguyên nước và quy định tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

 

- Điều 64 của Luật quy định nguồn thu ngân sách nhà nước từ hoạt động tài nguyên nước bao gồm: (i) thuế tài nguyên nước và các khoản thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế; (ii) các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí; (iii) tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; (iv) tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước, tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.

 

- Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được quy định trong Luật này với ý nghĩa tài nguyên nước là tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu, tương tự như đối với đất đai và khoáng sản. Nhà nước có quyền hưởng lợi khi cấp quyền khai thác cho các tổ chức, cá nhân. Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước khác với thuế tài nguyên, phí và lệ phí cấp giấy phép. Đó là khoản thu của chủ sở hữu khi cho các chủ thể khác sử dụng tài sản của mình tương tự như khoáng sản, đất đai. Hơn nữa, việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong  khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm công bằng trong việc sử dụng tài sản của Nhà nước. 

Điều 65 của Luật quy định việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trong các trường hợp:

 

+ Khai thác nước để phát điện có mục đích thương mại;

+ Khai thác nước để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp;

+ Khai thác nước dưới đất để trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản tập trung với quy mô lớn.

Chính phủ sẽ quy định cụ thể về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

 

3.7. Quan hệ quốc tế về tài nguyên nước (Chương VII)

 

Nội dung tại Chương này về cơ bản được kế thừa các quy định của Luật tài nguyên nước năm 1998, theo đó việc điều tra cơ bản, bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, hợp tác quốc tế và giải quyết tranh chấp về nguồn nước liên quốc gia sẽ được Nhà nước Việt Nam áp dụng dựa trên những nguyên tắc:

- Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các nước có chung nguồn nước;

- Bảo đảm công bằng, hợp lý và phát triển bền vững trong khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia;

- Không làm phương hại tới quyền và lợi ích của các nước có chung nguồn nước phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

- Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan.

Chương này được bổ sung về trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp tại vùng biên giới có nguồn nước liên quốc gia chảy qua trong việc theo dõi, giám sát, tổng hợp tình hình về các nguồn nước liên quốc gia, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp trên trực tiếp xử lý các vấn đề nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của Việt Nam. Nhà nước Việt Nam chủ động tham gia các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước nhằm thúc đẩy hợp tác, khai thác, sử dụng và phát triển bền vững nguồn nước liên quốc gia.

 

3.8. Trách nhiệm quản lý tài nguyên nước (Chương VIII)

 

Luật bổ sung quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành và của chính quyền địa phương các cấp, thẩm quyền cấp phép về tài nguyên nước; bổ sung quy định về việc điều phối, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông nhằm bảo đảm tính hệ thống, thống nhất của tài nguyên nước trên lưu vực sông và đề cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương liên quan trong việc giải quyết những vấn đề về tài nguyên nước trong khuôn khổ lưu vực sông.

- Trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước được quy định rõ ràng. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm:

+ Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước, quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá về tài nguyên nước;

+ Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc phê duyệt theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước, quy hoạch tài nguyên nước; quy trình vận hành liên hồ chứa, danh mục lưu vực sông, danh mục nguồn nước; kế hoạch điều tra cơ bản, điều hòa, phân phối tài nguyên nước, phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt;

+ Khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, vùng cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất; công bố dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước dưới đất; tổ chức thẩm định các dự án chuyển nước lưu vực sông, cho ý kiến về quy hoạch chuyên ngành có khai thác, sử dụng tài nguyên nước;

+ Cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước và cho phép chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền;

+ Tổ chức thực hiện điều tra cơ bản, giám sát tài nguyên nước; tổng hợp kết quả điều tra cơ bản, tình hình khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; tổ chức quan trắc cảnh báo, dự báo về mưa, lũ, lụt, hạn hán, thiếu nước, ô nhiễm, xâm nhập mặn;

+ Xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tài nguyên nước; quản lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu; công bố, xuất bản tài liệu, thông tin về tài nguyên nước;

+ Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phương án giải quyết những vấn đề liên quan đến nguồn nước liên quốc gia, việc tham gia tổ chức quốc tế và các hoạt động hợp tác quốc tế về tài nguyên nước;

+ Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước, Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và các tổ chức lưu vực sông;

+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước; đào tạo nguồn nhân lực, thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về tài nguyên nước.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn.

- Quy định về điều phối lưu vực sông được bổ sung nhằm tăng cường trách nhiệm phối hợp để điều phối, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra. Các hoạt động cần điều phối, giám sát bao gồm:

+ Phối hợp các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước, ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước, phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt;

+ Điều hoà, phân phối tài nguyên nước, duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông và ngưỡng khai thác nước dưới đất; điều hòa, phân phối nguồn nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước trên lưu vực sông;

+ Xây dựng, vận hành hồ chứa, đập dâng và các công trình điều tiết nước trên sông; dự án chuyển nước và các công trình khai thác, sử dụng nước quy mô lớn, quan trọng trên lưu vực sông;

+ Xả nước thải có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng nguồn nước lưu vực sông; khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm trên lưu vực sông;

+ Các hoạt động sử dụng đất, khai thác khoáng sản, bảo vệ và phát triển rừng trên lưu vực sông.

- Các quy định về thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước; Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước về cơ bản kế thừa Luật tài nguyên nước năm 1998, có chỉnh sửa về thẩm quyền cấp phép cho rõ ràng hơn, theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước. Lược bỏ quy định về thành phần Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng sẽ do Thủ tướng Chính phủ quy định. 

 

3.9. Thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước (Chương IX)

 

Luật bổ sung quy định thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và hoạt động theo quy định của Luật tài nguyên nước và pháp luật về thanh tra; bổ sung để cụ thể hơn về giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước.

- Thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước là Điều mới quy định Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành tài nguyên nước.            

- Chương này đã dành một điều quy định về giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước, trong đó Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hoà giải các tranh chấp về tài nguyên nước trên địa bàn khi có đề nghị của các bên tranh chấp. Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thuộc trường hợp không phải xin cấp giấy phép; trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp có quyền khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Toà án.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của mình; trường hợp không đồng ý thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Toà án theo quy định; giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện với nhau và giải quyết tranh chấp khi đã có quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng các bên không đồng ý.

Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết tranh chấp trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của mình; trường hợp không đồng ý thì các bên có quyền khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật và giải quyết tranh chấp khác về tài nguyên nước giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

 Đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại liên quan đến giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước.

 

3.10. Điều khoản thi hành (Chương X)

 

Điểm mới của Chương này quy định tổ chức, cá nhân đang thực hiện khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của Luật này đối với phần còn lại của thời hạn ghi trong giấy phép. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, các tổ chức, cá nhân có giấy phép về tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Luật đã bỏ quy định về áp dụng Luật tài nguyên nước đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.

 

PHẦN IV

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

I. MỘT SỐ VỤ VIỆC VI PHẠM LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC

 

1. Vụ xả thải vào sông Thị Vải của Công ty Vedan

 

1.1. Sơ lược về Công ty Vedan

 

Vedan được sáng lập từ năm 1954 tại Ðài Loan. Công ty Vedan Việt Nam xây dựng nhà máy vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, nằm ở phía Đông Nam Tp.HCM, với tổng diện tích 120 ha. Đến nay, các hạng mục đã đưa vào sản xuất gồm có: nhà máy sản xuất xút - clo, nhà máy bột ngọt, nhà máy tinh bột, nhà máy tinh bột biến đổi, nhà máy lysine, nhà máy phát điện và hơi, hệ thống xử lý nước thải, hồ chứa nước cho sản xuất, cảng, đường giao thông chuyên dụng, các khu làm việc, sinh hoạt, vui chơi.

 

1.2. Tóm tắt hành vi gây ô nhiễm nguồn nước sông Thị Vải của Vedan

 

Từ những năm 90 của thế kỷ trước, cụ thể là những năm 1994 - 1995, Công ty Vedan đã lắp đặt một "hệ thống xử lý" có chủ ý: hệ thống bơm nhiều tầng nấc có các van đóng - mở linh hoạt và dẫn ra một đường ống "bí mật" được cắm sâu trong lòng đất trực chỉ ra sông Thị Vải. Chỉ cần một cái lắc tay nhẹ nhàng, toàn bộ nước thải, lẽ ra đi vào hệ thống vận hành, sẽ đổ thẳng xuống dòng sông vô tội, mà bằng mắt thường khó mà phát hiện được. Vào thời điểm đó, Công ty Vedan đã buộc phải bồi thường hàng chục tỷ đồng cho người dân, khi bị tố cáo là làm ô nhiễm sông Thị Vải làm chết cá tôm của các hộ dân, ngư dân địa phương.

 

Giữa năm 2006, khi Thanh tra Cục Bảo vệ môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong lần kiểm tra hàng loạt các doanh nghiệp đóng trên địa bàn được cho là đã xả thải xuống sông Thị Vải, đã lại phát hiện Vedan, dù có xây dựng 3 hệ thống xử lý và xả thải "hiện đại", nhưng tất cả là nhằm đối phó, đúng hơn là ngụy trang với cơ quan chức năng Trung ương và địa phương. Theo nhận định của đoàn thanh tra, hệ thống này không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết cho việc xử lý kỹ thuật, nếu không nói là làm cho có.

 

Ngày 08 tháng 9 năm 2008, Cục Cảnh sát môi trường và đoàn kiểm tra liên ngành đã bắt quả tang Công ty Vedan đóng tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xả một lượng nước thải lớn chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường ra sông Thị Vải.

 

Qua việc khai quật hiện trường, Đoàn kiểm tra đã phát hiện Công ty Vedan đã có hành vi gian trá thiết kế, lắp đặt các hệ thống bồn chứa, bể chứa dịch thải sau lên men bột ngọt và lysine được đặt lẫn trong khu bồn chứa nguyên liệu mật rỉ đường, nguyên liệu và hoá chất sản xuất. Hệ thống đường ống chằng chịt hầu hết chìm dưới đất, các van khoá chỉ mở được bằng cờ-lê và mỏ-lết rất khó phát hiện.

 

Hệ thống máy bơm áp lực cao với các van được điều khiển theo ý của người vận hành, được nguỵ trang rất tinh vi, làm cho người xem tưởng là hệ thống máy bơm nước từ sông Thị Vải vào hoặc bơm dịch thải sau lên men lên khu cô đặc để sản xuất phân bón.

 

Tổng khối lượng dịch thải sau lên men mà Vedan xả trực tiếp ra sông Thị Vải, đã được cơ quan chức năng xác định là: 105.600m3/tháng, trong đó 80.000 m3 thải ra từ xưởng lysine và 25.600 m3 xả ra từ bồn 15.000m3. Ngoài ra, khối lượng dịch thải sau lên men, Vedagro dạng lỏng và CMS hiện đang lưu giữ trong các bồn chứa và bể chứa của Công ty Vedan là 20.500m3.

 

Kết quả phân tích mẫu tại trại chăn nuôi heo và bãi chứa nguyên liệu của Vedan, Đoàn kiểm tra còn phát hiện hàm lượng độc tố vượt khá cao, từ 5 đến 10 lần, với khối lượng xả thải khoảng 50m3/ngày; xả bùn thải từ nhà xử lý nước cấp vào hồ đất không qua thiết bị xử lý với khối lượng 800 m3/ngày...

 

Đoàn kiểm tra kết luận: Việc lắp đặt hệ thống xả dịch thải nêu trên của Công ty Vedan là trái với quy trình kỹ thuật xử lý chất thải, không đúng với nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt. Các hành vi vi phạm cố ý xả trực tiếp dịch thải sau lên men của Công ty Vedan ra sông Thị Vải mang tính hệ thống, có tổ chức và kéo dài, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đối với sông Thị Vải.

 

Ngày 19 tháng 9 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố kết quả điều tra 10 sai phạm của Vedan, bao gồm:

- Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên đối với nhà máy sản xuất tinh bột biến tính của công ty.

- Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên đối với các nhà máy sản xuất bột ngọt và lysin của công ty.

- Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên đối với các nhà máy khác của công ty.

- Nộp không đầy đủ các số liệu điều tra, khảo sát, quan trắc và các tài liệu liên quan khác cho cơ quan lưu trữ dữ liệu thông tin về môi trường theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Không đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với trại chăn nuôi heo.

- Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình vào hoạt động đối với dự án đầu tư nâng công suất phân xưởng sản xuất xút- axit từ 3.116 tấn/tháng lên 6.600 tấn/tháng.

- Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình vào hoạt động đối với dự án đầu tư nâng công suất các nhà máy bột ngọt từ 5.000 tấn/tháng lên 15.000 tấn/tháng, tinh bột biến tính từ 2.000 tấn/tháng lên 4.000 tấn/tháng, lysin từ 1.200 tấn/tháng lên 1.400 tấn/ tháng, bột gia vị cao cấp 20 tấn/tháng, PGA 700 tấn/năm, phân Vedagro 70.000 tấn/năm (rắn), 280.000 tấn/năm (lỏng).

- Thải mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường không qua thiết bị hạn chế môi trường.

- Quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường.

- Công ty xả nước thải vào nguồn nước không đúng vị trí quy định trong giấy phép.

 

- Hậu quả hành vi gây ô nhiễm nguồn nước của Vedan

 

Không chỉ sông Thị Vải mà toàn tuyến lưu vực sông Đồng Nai, từ lâu đã được báo động là ô nhiễm do nước thải các nhà máy sản xuất của 56 khu công nghiệp và khu chế xuất đang hoạt động.

 

Theo kết quả điều tra và khảo sát của Cục Bảo vệ môi trường, nước sông Đồng Nai, đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại, đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, đáng chú ý đã phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942-1995. Tại đây, chất rắn lơ lửng thường vượt tiêu chuẩn 3 - 9 lần, giá trị COD vượt 1,8 - 2,8 lần, giá trị DO thấp dưới giới hạn cho phép.

 

Trong khi đó, chất lượng nước sông của khu vực hạ lưu, giá trị DO giảm xuống rất thấp, SS vượt từ 2 – 2,5 lần TCVN 5942- 1995 (loại B). Vùng này cũng đã bị nhiễm mặn nghiêm trọng, nước sông khu vực này không thể sử dụng cho sinh hoạt và tưới tiêu.

 

Ô nhiễm nhất trong toàn bộ lưu vực đó là sông Thị Vải, trong đó có một đoạn sông dài trên 10 km gọi là "dòng sông chết". Đây là đoạn sông từ sau khu vực hợp lưu Suối Cả - sông Thị Vải khoảng 2 km đến khu công nghiệp Mỹ Xuân. Tại đây, nước bị ô nhiễm hữu cơ trầm trọng, có màu nâu đen và bốc mùi hôi thối cả ngày lẫn đêm, cả khi thủy triều. Theo kết quả khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giá trị DO ở đây thường xuyên dưới 0,5 mg/l, có nơi chỉ 0,04 mg/l.

 

Với giá trị DO gần như bằng 0 như vậy, các loài sinh vật hầu như không còn khả năng sinh sống, các nhà khoa học đã gọi đoạn sông này là "đặc sệt sự chết!".

Theo kết quả mô phỏng của Viện Môi trường – Tài nguyên Tp. Hồ Chí Minh xác định khu vực ô nhiễm khiến hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản bị ảnh hưởng nặng có diện tích gần 2.000ha thuộc địa bàn các xã Phước An, Long Thọ (huyện Nhơn Trạch), Long Phước, Phước Thái (huyện Long Thành) của tỉnh Đồng Nai cùng các xã Mỹ Xuân, Phước Hòa và thị trấn Phú Mỹ của huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vùng ô nhiễm gây ảnh hưởng nhẹ đến nuôi trồng, đánh bắt thủy sản có diện tích gần 700ha thuộc các xã Phước An, Vĩnh Thanh (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai), Phước Hòa (huyện Tân Thành, Bà Rịa - Vũng Tàu) và xã Thạnh An, huyện Cần Giờ, TP.HCM. Trong đó, diện tích bị ảnh hưởng của xã Thạnh An ước tính chỉ gần 84ha.

 

Kết quả tính toán của Viện Môi trường và tài nguyên TP Hồ Chí Minh cho thấy trong tổng lượng thải từ sản xuất công nghiệp, phần "đóng góp" của Vedan lên tới 90%, thậm lên đến 98%.

 

Như vậy, hành vi xả thải của Vedan đã làm ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước một cách nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cũng như hoạt động kinh tế của người dân.

 

1.3. Xử phạt hành vi vi phạm của Vedan

 

Ngày 06/10/2008, thanh tra Bộ Tài nguyên - môi trường ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với Công ty Vedan với tổng số tiền 267,5 triệu đồng và buộc công ty này truy nộp phí bảo vệ môi trường hơn 127 tỉ đồng. Đồng thời cấm Vedan xả nước thải, chất thải chưa qua xử lý ra môi trường và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về kinh tế và môi trường theo quy định của pháp luật.

 

Biện pháp khắc phục hậu quả là đình chỉ hoạt động xả thải đối với Vedan để khắc phục ô nhiễm môi trường. Vedan phải cải tạo toàn bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy định. Hệ thống thu gom và cửa xả nước thải phải được đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát.

 

Tiếp đó, người dân làm nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản trên lưu vực sông Thị Vải thuộc các tỉnh thành Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và TP.HCM phát đơn kiện Vedan đòi bồi thường thiệt hại. Do tòa án cho rằng chưa đủ căn cứ thụ lý nên người dân thông qua đại diện là hội nông dân các địa phương để thương lượng, đòi Vedan bồi thường thiệt hại.

 

Ban đầu, Công ty Vedan chỉ đồng ý hỗ trợ thiệt hại cho người dân trên cơ sở trách nhiệm do mình gây ra. Qua quá trình thương lượng, hoà giải, với sự tham gia của những lực lượng xã hội khác nhau (như Hội Nông dân, Hội bảo vệ người tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh, các cơ quan báo chí, chuỗi siêu thị…) Công ty Vedan đã đồng ý bồi thường thiệt hại theo những con số cụ thể mà nông dân các tỉnh đưa ra trên cơ sở đánh giá thiệt hại của Viện Khoa học Môi trường (Thành phố Hồ Chí Minh là hơn 45 tỷ đồng, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hơn 53 tỷ đồng và tỉnh Đồng Nai gần 120 tỷ đồng).

 

2. Công ty Tung Kuang gây ô nhiễm môi trường

 

2.1. Sơ lược về công ty Tung Kuang

 

Tung Kuang là công ty 100% vốn Đài Loan sản xuất nhôm thanh định hình đầu tiên có mặt tại Việt Nam chuyên sản xuất các sản phẩm nhôm cao cấp. Nhà máy đầu tiên của công ty được đặt tại Biên Hòa. Cuối năm 2003 Tung Kuang đã xây dựng nhà máy thứ hai tại huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Năm 2005, công ty này chính thức đi vào sản xuất và chuyên sản xuất nhôm định hình.

 

2.2. Tóm tắt hành vi gây ô nhiễm nguồn nước sông Ghẽ của Tung Kuang

 

Theo phản ánh của nhân dân địa phương, từ khi đi vào sản xuất, Công ty Tung Kuang luôn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong vùng.

 

Ngay từ năm 2005, Thanh tra Bộ Tài nguyên môi trường đã phát hiện một loạt các vi phạm tại Tung Kuang như: quản lý chất thải nguy hại chưa đúng quy định; xả nước thải với lưu lượng khoảng 250m3/ngày vào môi trường; chỉ tiêu BOD5 vượt 2,2 lần mức cho phép; COD vượt 2,4 lần; phenola vượt 2,0 lần; Clo dư vượt từ 24 -27 lần tiêu chuẩn môi trường; xả nước thải vào nguồn nước chưa có giấy phép... Thanh tra Bộ đã xử phạt Công ty 109,5 triệu đồng vì những vi phạm trên.

 

Liên tục trong các năm 2007, 2008, 2009, qua kiểm tra cơ quan chức năng của tỉnh Hải Dương đã đưa Công ty vào danh sách các đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, kéo dài.

 

Từ phản ánh của người dân về tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh nhà máy cả trên cạn lẫn dưới nước, C36 đã tìm hiểu nguyên nhân và xác định là lớp bùn màu trắng thoát ra từ cống ngầm dọc sông Ghẽ là do Tung Kuang gây ra. Ngày 14/4/2010, C36 đã kiểm tra và bắt quả tang hành vi xả thải của Tung Kuang. Thời điểm bị bắt quả tang, công nhân đang vận hành hai máy bơm tại khu nước thải chưa qua xử lý ra môi trường.

 

Việc xả trộm nước thải của Công ty Tung Kuang rất tinh vi. C36 cho biết, nên cạnh hệ thống xử lý nước thải theo quy định để đối phó các cơ quan chức năng, công ty còn lắp đặt thêm đường ống phụ không qua quy trình xử lý hóa chất để xả thẳng ra môi trường. Hệ thống nước thải chủ yếu từ hai xưởng xi mạ và xưởng khung nhôm định hình được bơm chảy vào bể chứa của hệ thống xử lý. Nhờ hệ thống cống ngầm này, mỗi ngày Tung Kuang có thể xả trực tiếp một lượng nước thải khoảng 300 m3 ra môi trường. Miệng ống xả thải trộm của công ty trên sông Ghẽ nằm gần nhà máy nước sạch huyện Cẩm Giàng, công suất 3.000 m3 một ngày, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong huyện.

 

Trong hai ngày 14 và 15-4-2010, lực lượng Cảnh sát Môi trường đã phải dùng phương tiện cơ giới, khoan cắt bê-tông, đào xác định được hơn 40m đường ống ngầm chẻ nhánh, không qua hệ thống xử lý mà chạy ngầm sâu dưới đất, được sử dụng để xả trộm nước thải ra môi trường, trong đó có nhiều đoạn sâu gần 3m và nằm dưới những khối bê tông kiên cố.

Theo C36, nước thải ra môi trường gồm nhiều hóa chất độc hại như Chrome 6 (cao gấp 10 lần tiêu chuẩn cho phép), mangan, sắt... có hàm lượng vượt quy định.

 

Theo báo cáo của Chi Cục bảo vệ môi trường (Sở TNMT Hải Dương), hành vi xả nước thải không qua xử lý của Tung Kuang vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, phớt lờ các yêu cầu của cơ quan chức năng, liên tục tái phạm với tính chất, mức độ lần sau nghiêm trọng hơn lần trước.

 

2.3. Hậu quả hành vi gây ô nhiễm nguồn nước sông Ghẽ của Tung Kuang

 

Kết quả phân tích mẫu nước thải của công ty Tung Kuang cho thấy lượng COD vượt 2,12 lần, tổng chất rắn lơ lửng vượt 18 lần, xianua vượt 1,3 lần, crom 3 vượt 12,6 lần, crom 6 vượt 9,8 lần...

 

Đây là nguyên nhân khiến cho đoạn sông Ghẽ tại khu vực cửa thải xuất hiện bọt trắng nước sông bị vẩn đục. Từ một con sông rất trong lành, sông Ghẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng. Vì nước sông bị ô nhiễm nghiêm trọng nên có những hôm cá chết nổi đầy chân cầu Ghẽ (gần miệng ống xả trộm). Không khí luôn có mùi hăng hăng đặc trưng gây khó chịu cho người dân địa phương. Nhiều người dân sống dựa vào nghề đánh bắt thủy sản tại sông Ghẽ cũng trở nên khốn đốn vì không còn kế sinh nhai. Tình trạng này kéo dài từ năm 2005 – khi Tung Kuang chính thức đi vào hoạt động khiến cho người dân địa phương hết sức bức xúc.

Như vậy, hành vi xả thải của Tung Kuang không chỉ gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe của người dân địa phương.

 

2.4. Xử lý hành vi vi phạm của Tung Kuang

 

Với sai phạm có tính hệ thống, đặc biệt là hành vi xả thải không qua xử lý, ngày 21/4/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương phối hợp với Thanh tra Tổng cục Môi trường và các cơ quan liên quan đã có cuộc họp với đại diện Công ty Tung Kuang về hành vi xả thải trộm, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các khu vực lân cận. Tại cuộc họp này, các bên đã đi đến thống nhất về hình thức xử lý doanh nghiệp này. UBND tỉnh Hải Dương đã quyết định tạm đình chỉ sản xuất có phát sinh xả nước thải gây ô nhiễm môi trường của Công ty Tung kuang. Ngoài ra, UBND tỉnh cũng thu hồi các quyết định liên quan đến đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy phép xả nước thải của Tung kuang. Khi nào công ty này khắc phục xong mới xem xét, giải quyết. Đại diện công ty Tung Kuang cũng lên tiếng xin lỗi người dân về hành vi vi phạm.

 

Ngày 26/5/2010, Công ty Tung Kuang đã tự tháo dỡ toàn bộ hệ thống xả nước thải sản xuất không qua xử lý ra môi trường, công nhân của công ty này cũng đồng thời đổ bê tông vào miệng ống xả nước thải chưa qua xử lý.

 

Sau 01 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm của Tung Kuang, ngày 06/4/2011, UBND tỉnh Hải Dương đã ra quyết định xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường đối với Chi nhánh công ty cổ phần công nghiệp Tung Kuang. Tổng mức phạt là 312 triệu đồng, trong đó phạt 170 triệu đồng do không vận hành, không vận hành thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý nước thải theo nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt; xử phạt 100 triệu đồng do xả nước thải với lưu lượng 250 m3/ngày có chỉ tiêu ô nhiễm vượt quy chuẩn cho phép; phạt 40 triệu đồng do trong nước thải có chất nguy hại vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn chất thải 9,8 lần...

 

UBND tỉnh yêu cầu chi nhánh của công ty này thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; tiếp tục khắc phục hậu quả do xả nước thải không qua xử lý ra môi trường và không tái phạm.

 

Đánh giá chung: Thực tế các vụ việc vi phạm luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường nêu trên cho thấy các vụ việc này đều hết sức tinh vi và có tính chất nghiêm trọng, hủy hoại nguồn nước và gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống. Các vụ việc thường diễn ra một thời gian dài mới bị phát hiện và xử lý, mức xử phạt còn thấp chưa tương ứng với hành vi vi phạm. Trong thời gian tới, khi Luật Tài nguyên nước năm 2012 đi vào thực tiễn với nhiều điểm mới tích cực nêu trên sẽ góp phần hạn chế những hành vi vi phạm của các chủ thể khai thác, sử dụng nguồn nước.

 

II. LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

 

1.  Luật Tài nguyên nước của CH Pháp

 

Nước được coi là một phần di sản chung của quốc gia. Vì vậy, bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn nước phải được đặt trong việc phục vụ các lợi ích chung và tôn trọng sự cân bằng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên nên pháp luật về tài nguyên nước được quan tâm từ rất sớm. Năm 1964, các quy định về chế độ phân bổ nước và chống ô nhiễm nguồn nước đã được ban hành (Luật số 64-1245 ngày 16/12/1964). Tiếp đến, các Luật số  93- 3 ngày 03/01/1992 về tài nguyên nước; Luật số 2004- 338 ngày 21/4/2004 về việc chuyển hóa các quy định của Chỉ thị 2000/60/CE của Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu thiết lập một khung cảnh chính sách chung về quản lý nguồn nước; Luật số 2006 -1772 ngày 30/12/2006 về nước và môi trường thủy sinh…

 

Nguyên tắc chung về quản lý tài nguyên nước tại Pháp là quản lý hài hòa các nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông. Việc quản lý hài hòa tài nguyên nước nhằm các mục tiêu: Một là, phòng ngừa, bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh, vùng đất ngập nước, nước mặn, nước lợ; hai là, chống ô nhiễm do tháo nước và những hoạt động khác làm hủy hoại đến nguồn nước hoặc làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh vật học đối với nước mặt, nước dưới đất, dưới biển; ba là, phục hồi chất lượng và tái tạo các nguồn nước; bốn là, phát triển và bảo vệ nguồn nước tự nhiên; năm là, làm tăng giá trị kinh tế của nước và phân bố nguồn nước bằng việc thu tiền nước để sử dụng vào việc cấp nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước.

Nguyên tắc quản lý hài hòa tài nguyên nước nghĩa là phải đảm bảo thỏa mãn hoặc dung hòa những yêu cầu trong quá trình sử dụng nước hoặc trong các hoạt động liên quan đến nguồn nước, đó là: bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ sự trong lành cộng đồng và việc tiêu thụ nước sạch của nhân dân; bảo đảm về mặt sinh thái, đặc biệt là liên quan đến nghề nuôi cá; giữ gìn nguồn nước và dòng chảy tự nhiên của nước nhưng vẫn đàm bảo chống lại được lũ lụt; không làm ảnh hưởng đến các hoạt động: nông nghiệp, nghề cá, về văn hóa biển, thể thao, du lịch, bảo vệ cảnh quan, bảo đảm sự vui chơi giải trí và những hoạt động khác của con người.

 

Nội dung quản lý nhà nước được xác định qua các hoạt động: ban hành văn bản pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về tài nguyên nước; quy hoạch nguồn nước (là nội dung quan trọng nhất của hoạt động quản lý nhà nước) thể hiện ở việc lập bản đồ quy hoạch và quản lý nước. Bản đồ quy hoạch và quản lý nước phải gồm các nội dung: mục đích chung của việc sử dụng nước, đánh giá nguồn nước, bảo tồn số lượng và chất lượng nước mặt, nước dưới đất; quy định các biện pháp cần thiết trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến đời sống công dân, gây hại cho chất lượng nước và dòng chảy; các hình thức phạt, mức phạt trong trường hợp không tuân thủ các quy định về bảo vệ và khai thác nguồn nước.

 

Trong mô hình tổ chức quản lý tài nguyên nước, Ủy ban lưu vực sông và Ban quản lý nước cấp vùng là những chủ thể có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, hai cơ quan này chỉ là cơ quan quản lý về chuyên môn, không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là 1 điểm khác biệt với quản lý nhà nước của Việt Nam, vì ở Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước vừa có thẩm quyền soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, vừa có thẩm quyền quản lý về mặt chuyên môn đối với những vấn đề liên quan đến tài nguyên nước.

 

2.  Luật Tài nguyên nước tại Liên bang Nga

 

Bộ luật về nước của Liên bang Nga được Đu - ma quốc gia thông qua ngày 12.4.2006, Hội đồng Liên bang  phê chuẩn ngày 26/5/2006 và Tổng thống Putin ký ban hành ngày 03/06/2006, gồm 7 chương và 69 điều, quy định chi tiết quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Liên bang, cơ quan quyền lực nhà nước thuộc các chủ thể hình thành Liên bang, cơ quan tự quản địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Nội dung các quy định tập trung vào sử dụng, khai thác, bảo vệ một cách hiệu quả các nguồn nước thuộc mọi hình thức sở hữu; thực hiện kiểm tra, giám sát các cấp; ban hành các tiêu chuẩn chất lượng, các quy tắc liên quan đến sử dụng, bảo vệ nguồn nước; thực hiện các biện pháp phòng tránh, khắc phục thiệt hại do nước gây ra, tổ chức việc quản lý, thu phí sử dụng nước…theo dõi, đánh giá và dự báo về các thay đổi tình trạng của các nguồn nước thuộc mọi hình thức sở hữu.

 

Các lưu vực là đơn vị quản lý cơ bản trong sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Các lưu vực này được hình thành từ các lưu vực sông và các nguồn nước dưới đất, các vùng biển gắn liền với các lưu vực sông này. Theo quy định của Bộ luật Nước, hiện nay Liên bang Nga có 20 lưu vực sông được đặt tên cụ thể theo tên gọi của các sông hoặc biển liên quan, ví dụ, lưu vực Ban Tích, Sông Đông, A mua… Phạm vi địa giới của các lưu vực này do Chính phủ Liên bang quy định.

 

Hội đồng lưu vực được thành lập để tư vấn sử dụng, bảo vệ các nguồn nước ở các lưu vực, với thành phần bao gồm: đại diện cơ quan hành pháp được Chính phủ Liên bang ủy quyền, đại diện cơ quan quyền lực nhà nước thuộc các chủ thể Liên bang Nga, đại diện cơ quan tự quản địa phương, đại diện người sử dụng nước, các tổ chức xã hội, cộng đồng các dân tộc ít người miền Bắc, Xibiri, Viễn đông của Liên bang Nga. Chính phủ quy định việc thành lập và hoạt động của các Hội đồng lưu vực.

 

Bộ luật Nước quy định khá chi tiết về cơ sở dữ liệu nước quốc gia. Theo đó, cơ sở dữ liệu này là tổng hợp một cách hệ thống các thông tin, tài liệu về các nguồn nước thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau, về sử dụng và bảo vệ một cách hiệu quả, đúng mục đích các nguồn nước, phục vụ lập kế hoạch và triển khai các biện pháp ngăn chặn, khắc phục tác động tiêu cực của nước. Các hợp đồng sử dụng nước và quyết định cấp phép có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào cơ sở dữ liệu này. Chính phủ Liên bang quy định cụ thể về cơ sở dữ liệu này.

 

Quy hoạch tổng thể về sử dụng và bảo vệ nguồn nước là tài liệu đã được hệ thống hóa về hiện trạng các nguồn nước. Quy hoạch này là cơ sở để thực hiện các biện pháp kinh tế liên quan đến nước và các biện pháp bảo vệ. Quy hoạch có tính bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương. Chính phủ Liên bang quy định trình tự soạn thảo, thông qua và triển khai các quy hoạch này.

 

3.  Luật Tài nguyên nước của CHND Trung Hoa

 

Năm 1993, Trung Quốc ban hành Bản thực thi chế độ cấp giấy phép lấy nước. Đến năm 2006, văn bản này được thay thế bằng Quy chế cấp phép sử dụng tài nguyên nước và Quản lý thu phí tài nguyên nước. Năm 1997, Trung Quốc đã ban hành Chính sách về tài sản ngành nước. Năm 1998, Trung Quốc đã ban hành Luật Tài nguyên nước được sửa đổi bổ sung năm 2002 (tại Hội nghị lần thứ 29 của UBNTV Quốc hồi khóa 9 ngày 29/8/2002 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2002). Điều này đã đánh dấu cho việc Trung Quốc đã đưa công tác quản lý tài nguyên nước vào quỹ đạo quản lý theo luật pháp, trị thuỷ theo luật pháp để khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước một cách hợp lý. Luật gồm 8 chương với 82 Điều, trong đó công tác quản lý Tài nguyên nước được thể hiện ở các nội dung chính sau đây:

 

Một là, Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên nước: "Tài nguyên nước thuộc quyền sở hữu của nhà nước, Chính phủ thay mặt Nhà nước thực hiện quyền làm chủ các nguồn nước" (Điều 3 Luật Tài nguyên nước);

 

Hai là, xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước; phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, cụ thể là: (i) quản lý việc khai thác, sử dụng nước phải tuân theo các quy hoạch; xây dựng, phê duyệt và thực thi quy hoạch; ii) thực hiện các biện pháp bảo vệ thảm thực vật, trồng cây gây rừng, bảo tồn các nguồn nước, ngăn chặn và kiểm soát xói mòn đất và ô nhiễm nước, cải thiện môi trường sinh thái.

 

Ba là, Chính phủ điều phối tài nguyên nước ở tầm vĩ mô trên toàn quốc thể hiện qua việc điều hòa, phân bổ tài nguyên nước ở tầm vĩ mô trên toàn quốc dựa trên cơ sở các quy hoạch trung và dài hạn về cung cầu nước. Các phương án điều tiết và phân bổ nước phải lấy lưu vực sông làm đơn vị, phải theo quy hoạch lưu vực và quy hoạch trung và dài hạn về cung cầu nước.

 

Bốn là, cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước: áp dụng chế độ cấp phép cho hoạt động khai thác tài nguyên nước và đền bù sử dụng nước theo nguyên tắc "Ai đầu tư xây dựng – người đó được quản lý và thu lợi". Cơ quan quản lý phụ trách việc cấp phép cho hoạt động khai thác nguồn nước và tổ chức thực hiện trả phí sử dụng nước trong toàn quốc. Việc cấp phép phải phù hợp với quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước, quy hoạch vùng chức năng tài nguyên nước, phù hợp với phương án phân bổ nước được phê duyệt.

 

Luật của Trung Quốc đã rất nhấn mạnh về phân bổ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước, tách thành một chương riêng. Sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước thể hiện ở việc quy định cụ thể về thực hiện chế độ đo đếm nước, thu phí và tăng giá khi sử dụng quá mức, áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến tăng tần suất sử dụng nước tuần hoàn và tái sử dụng, dần dần loại trừ các công nghệ, thiết bị lạc hậu và tiêu thụ nhiều nước.

 

Nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn).